Muội Là Công Chúa Nhà Nghèo

Chương 10: Kẹp Tóc Đắt Hàng

Bùi công tử ngồi trên chiếc ghế tre độc nhất trong nhà, tấm áo lụa trắng như tuyết đầu mùa buông xuống chấm mặt đất đầy tro bếp, mà chàng vẫn thẳng lưng như một cây tùng non trước ngõ. Cha muội ngồi đối diện trên bậc cửa, hai bàn tay chai sạn cứ xoa vào nhau như đang cố lau đi mồ hôi vô hình, bát trà lá vườn mới rót còn nghi ngút một làn khói mỏng.

Muội đứng nép sau vai cha, hai ngón tay bé xíu bấu vào vạt áo bố đã bạc màu. Ta trong lòng gõ nhịp như tiếng cái chày giã gạo nhà hàng xóm, hồn hai mươi lăm tuổi vẫn không giấu được chút giật mình khi ngồi đối diện một người mà mùi trầm hương trên áo còn quý hơn cả gia sản nhà mình gộp lại.

“Trần bá phụ, tại hạ vào thẳng chuyện.” Bùi công tử đặt bát trà xuống bàn tre, ngón tay dài khẽ gõ ba nhịp lên gờ bát sứ đã mẻ. “Tại hạ đặt trước hai mươi cây nến trầm hương, giá năm lượng bạc một cây, hẹn nửa tháng sau đến nhận tại chợ phiên Thanh Châu. Hôm nay tại hạ ứng trước hai lượng bạc làm tin, chỗ còn lại tại hạ giao đủ khi nhận hàng, bá phụ có bằng lòng không.”

Cha muội ngồi ngây ra như một pho tượng gỗ mít ngoài đình. Ta biết cha đang tính nhẩm trong đầu, hai mươi cây, mỗi cây năm lượng, tức một trăm lượng bạc. Một trăm lượng bạc là con số cả đời cha chưa từng dám mơ, thậm chí có nói to ra cha cũng sợ trời đánh mắng cho là quá tham. Cha lắp bắp một tiếng, rồi lắp bắp thêm tiếng nữa, cuối cùng chỉ vắt được ra một câu:

“Bùi công tử, ngài, ngài nói lại lần nữa được không, tôi già rồi, nghe không rõ.”

Bùi công tử khẽ mỉm cười, nụ cười mỏng như một lát trăng non treo bên đèn dầu. Chàng nhắc lại chậm rãi từng chữ, giọng vẫn trầm như tiếng chuông chiều mà muội đã nghe hôm qua. Muội thấy vai cha run lên một cái, nước da rám nắng vụt hồng lên như ngọn đèn dầu vừa được khêu thêm bấc. Cha đưa tay vịn cạnh bàn, mấy đầu ngón cha bám chặt vào gờ tre đến trắng cả móng.

“Bùi công tử, tôi, tôi phải hỏi con bé nhà tôi, hàng của muội, tôi không dám tự quyết.”

Cha quay lại nhìn muội, ánh mắt cầu cứu như một chú mèo con bị dồn vào góc bếp. Ta trong lòng cười thầm, kiếp trước lăn lộn thương trường mấy năm chưa từng thấy đơn hàng nào ngọt như đường phèn tan trong nước ấm thế này, cha còn phải hỏi ta chi cho khổ. Muội gật đầu với cha, nói giọng non nớt nhưng dứt khoát:

“Cha ơi, muội đồng ý, muội chế được. Xin Bùi công tử một điều, muội cần đủ nửa tháng, không thể sớm hơn, vì trầm hương phải ủ đủ ngày mới toả hương đúng độ.”

Bùi công tử đưa mắt nhìn muội, ánh mắt chàng sáng như sao đêm sau cơn mưa xuân. Ta gặp ánh mắt ấy thì tim đập lỗi một nhịp, chưa kịp trấn tĩnh thì chàng đã gật đầu:

“Cô nương nói phải, hương cần ủ, ta không thúc. Nửa tháng cũng được, hai mươi ngày cũng xong, tại hạ ở trấn Thanh Châu chờ, có thư báo là tại hạ về.”

Chàng đưa tay vào tay áo, lấy ra một túi lụa xanh nhạt thắt nút hình như ý. Bàn tay chàng thon dài như tay công tử đọc sách, ngón út có một cái nhẫn ngọc lam nhỏ, khảm chìm một chữ Bùi. Chàng đặt túi lụa lên bàn tre, mở nút, đổ ra bốn thỏi bạc trắng ngần, mỗi thỏi bằng hai đốt ngón tay cái, mỗi thỏi nửa lượng, cộng đủ hai lượng.

Cha đưa hai tay ra đón, tay cha run đến nỗi thỏi bạc cứ trượt qua trượt lại giữa mấy đầu ngón. Ta phải bước lên nửa bước, đỡ nhẹ khuỷu tay cha một cái, cha mới bình tĩnh gom cả bốn thỏi vào lòng bàn tay chai sạn. Cha ngập ngừng, muốn nói cảm ơn mà chưa mở được miệng.

“Bá phụ khỏi cảm ơn.” Bùi công tử phẩy tay áo. “Nến trầm hương của muội cô nương xứng giá này, tại hạ còn thấy mình mua rẻ. Ở Kinh Sư giá trầm quý tiến vua thấp nhất cũng mười lượng một cây, nến của muội cô nương nếu đưa vào Kinh Sư, tại hạ dám bảo bán mười lăm lượng không phải chuyện đùa.”

Cha nghe đến mười lăm lượng thì tay lại run thêm một chặp, thỏi bạc suýt lăn xuống nền đất. Muội bật cười khe khẽ, đưa tay vịn cha đứng cho vững. Ta thầm nghĩ, thương gia đúng là thương gia, câu này Bùi công tử vừa khen vừa kéo giá lên cao hộ muội, sau này muội có ra khỏi tay chàng đi bán chỗ khác thì cũng biết đâu là giá đáy đâu là giá trần, đúng là biết ăn biết ở như một cây kim trong bọc.

Bùi công tử toan đứng dậy cáo từ, nhưng khi chàng ngước lên, ánh mắt bỗng ngưng lại giữa không trung, đúng ba nhịp thở, không nhích một sợi lông mi.

Chàng đang nhìn vào búi tóc con của muội.

Kẹp tóc bướm đính pha lê ngọc trai · phong cách cổ trang

Kẹp tóc bướm đính pha lê ngọc trai · phong cách cổ trang

41.000đ

Xem chi tiết →

Trên búi tóc của muội cài một cái kẹp tóc bướm ngọc lam, cái mà muội tự tay khắc mấy hôm trước bằng ngọc vụn nhặt ở suối cạn sau vườn, không phải cánh Song Điệp trong hộp gỗ khảm trai. Cánh bướm chỉ bằng ba đầu ngón tay chụm lại, khảm ngọc lam đủ ăn ánh nắng rọi qua khe cửa gỗ, mấy đường vân trên cánh tinh như sương đọng đầu ngọn cỏ mai.

Bùi công tử nghiêng người tới trước nửa phần, ánh mắt chàng sắc lại, không còn nụ cười mỏng như lát trăng non nữa. Ta trong lòng bỗng dựng ngược một sợi tóc gáy, cảm giác như đang bị soi qua một ánh đèn dầu chực bén lửa. Kiếp trước học ngành mỹ nghệ, ta biết ánh mắt của người sành ngọc là ánh mắt gì, chàng đúng đang nhìn kẹp như nhìn một bảo vật thất truyền vừa xuất thổ.

“Muội cô nương, cái kẹp trên tóc của cô nương, ai làm cho cô nương.” Giọng chàng vẫn trầm mà đã nhạt hơn tiếng chuông chiều một bậc, gần như trầm xuống dưới đáy giếng.

Muội chớp mắt, giọng non nớt đúng chất trẻ con:

“Dạ, muội tự khắc ạ. Muội nhặt ngọc vụn ngoài suối cạn sau vườn, mài bằng dao tre với cát mịn hai ngày mới xong. Bùi công tử đừng chê, muội học lỏm trong sách cha bán rẻ hồi thôn Đào Khê ngập lụt năm trước ạ.”

Ta trong lòng dằn xuống mấy lời bịa cho khớp, hồn kiếp trước quen kể chuyện chợ búa, nói mấy câu này cũng không nghẹn giọng chút nào. Cha muội đứng bên nghe, đầu cha gật gật như một con búp bê gỗ, cha đâu biết muội bịa, cha nghĩ muội chăm chỉ thông minh trời sinh, cha có biết đâu ta còn có cả một không gian tâm linh cất giấu bí mật.

Bùi công tử lặng đi thật lâu, dài đến nỗi cha muội bắt đầu bồn chồn nhìn muội một cái rồi lại nhìn Bùi công tử một cái. Trong sân, con gà mái nhà bà hàng xóm cục ta cục tác chui qua khe hàng rào, mổ vài hạt gạo rơi rồi lại chui về, không khí trong nhà tranh cứ vậy trầm xuống một quãng, chỉ nghe tiếng lửa lép bép trong bếp mẹ và tiếng đèn dầu leo lét trên mặt bàn tre.

Cuối cùng Bùi công tử đứng dậy, chậm rãi lấy trong tay áo ra thêm một túi lụa nhỏ nữa, lần này màu đỏ đô, thắt nút vuông. Chàng đặt túi lên bàn, giọng chàng lấy lại nhịp trầm bình thường:

“Muội cô nương, tại hạ đặt thêm mười cái kẹp tóc bướm ngọc y hệt cái muội đang cài trên tóc, giá một lượng bạc một cái, giao cùng đợt với hai mươi cây nến. Trong túi này có năm lượng ứng trước làm tin, chỗ còn lại tại hạ giao đủ khi nhận hàng.”

Cha muội lần này không lắp bắp, cha đứng thẳng lên như cây tre bị dây thừng kéo căng, hai mắt cha mở to như hai cái đèn lồng. Muội cũng khẽ giật mình, mười cái kẹp bướm ngọc, mỗi cái một lượng, tức thêm mười lượng bạc nữa. Cộng cả nến, đơn hàng này lên đến một trăm mười lượng bạc, đủ mua ba mẫu ruộng, đủ lợp lại toàn bộ mái ngói, đủ để cả nhà năm miệng ăn no đủ ba năm không lo bữa.

“Bùi công tử,” muội hít một hơi sâu, giọng chậm rãi, “muội xin nhận đơn, nhưng có một lời phải thưa trước, kẹp bướm ngọc mỗi cái muội khắc phải mất hai ngày, mười cái là hai chục ngày, cộng với nến, muội xin ngài cho đủ hai mươi ngày, không thể sớm hơn.”

“Được, ta cho hai mươi ngày, thư báo là ta về.”

Bùi công tử vái nhẹ cha muội một vái, xoay người ra cửa. Chàng bước ra sân, dừng lại một khắc dưới gốc đào già bảy mươi tuổi, ngẩng đầu nhìn lên tán lá non đang lay dưới nắng chiều. Ta thấy vai chàng khẽ động, hình như chàng thở dài một tiếng, tiếng thở nhẹ đến nỗi lá đào không rụng, nhưng đủ để ta trong lòng dấy lên một dấu hỏi mờ. Chàng nhìn cây đào ấy, ánh mắt như đang tìm một cái gì đó, một cái gì đó rất cũ, đã bị vùi dưới lớp bụi mười mấy năm.

Xe ngựa lăn bánh khuất sau bờ tre, bụi đường mới rớt xuống lấm chấm trên mặt nền đất, cha muội mới ngồi phịch xuống bậc cửa, hai tay vẫn nắm chặt hai túi bạc, không dám thở mạnh sợ bay mất. Cha nhìn muội, giọng cha nghẹn ngào như tiếng nước mưa nhỏ vào lu vỡ:

“Kiều Kiều nhi, muội có thật là tiên nữ giáng phàm không con, cha, cha, một trăm mười lượng bạc, cha đến chết cũng không dám nghĩ đến con số ấy.”

Muội cười, hai má lúm đồng tiền hằn lên như hai hạt đậu đen:

“Cha ơi, tiên nữ đâu có ngồi trong lu gạo với cha đâu, muội là con của cha mẹ, cha đừng nói vậy, muội xấu hổ chết mất. Cha cất bạc đi kẻo mẹ trong bếp lát nữa ra thấy lại khóc như hôm chợ phiên.”

Cha cười khan, tay run run gói ghém hai túi lụa vào một cái bao vải cũ, buộc chặt vào lưng như cách hôm chợ Thanh Châu. Ta trong lòng thầm nghĩ, đơn hàng này to gấp bảy tám lần hôm chợ, ta phải bàn bạc kỹ với ba huynh, phải chia việc, phải đảm bảo hai mươi ngày làm ra đủ hai mươi cây nến với mười cái kẹp, không lỡ hẹn một chữ nào.

Chiều muộn, nhị ca vác về một xâu cá suối, đại ca đi làm nhà ông Trịnh về, mặt mũi cháy nắng đen như củ khoai lang nướng, tam ca đọc xong quyển sách trên gác bếp cũng bước xuống. Mẹ dọn cơm chiều lên bàn tre, cả nhà quây quần bên chén cháo trắng, hôm nay có thêm một đĩa cá suối kho tương, mùi thơm tanh tanh ấm cả gian nhà.

Cha vừa và một miếng cơm là bắt đầu kể chuyện Bùi công tử. Kể đến đoạn ứng trước bảy lượng, ba huynh đồng loạt buông đũa. Đại ca dừng nhai giữa chừng, cục cơm nhỏ bằng hạt cau còn nằm bên khoé miệng. Nhị ca há hốc, chén cháo trên tay chàng nghiêng đi một chút, suýt đổ. Tam ca thì thẳng lưng, đặt bát xuống chậm rãi, chớp mắt hai cái mới lấy lại được vẻ điềm tĩnh vốn có.

“Cha, thật hả cha, một trăm mười lượng?” Đại ca hỏi, giọng chàng run như dây đàn tranh mới căng. “Hay Bùi công tử đùa ta?”

“Không đùa, con ạ, cha còn cầm bảy lượng ứng trước trong khăn.” Cha cởi bao vải, đổ hai túi lụa lên khăn nâu giữa bàn. Bốn thỏi bạc trắng ngần cùng năm thỏi to hơn nằm ngay ngắn dưới ánh đèn dầu, phản chiếu ánh vàng như những giọt sương lớn đọng trên mảnh vải xanh mùa đông. Mẹ vừa nhìn thấy là bát cháo trong tay mẹ trôi tuột xuống bàn, mẹ oà khóc như hôm chợ phiên, hai tay ôm chặt cổ muội:

“Kiều Kiều nhi của mẹ, con của mẹ, con của mẹ ơi, sao con giỏi thế con…”

Muội để mẹ ôm, ngoan như một con mèo con nằm trong lòng chủ. Ta trong lòng cũng cay xè khoé mắt, kiếp trước hai mươi lăm năm mồ côi cô nhi viện, chưa từng có ai ôm ta khóc vì mừng cho ta, chưa từng có ai gọi ta là con của tôi bằng cả cái giọng nghẹn ngào không giữ được ấy. Muội đưa tay lau nước mắt cho mẹ, ngón tay bé xíu chạm vào má mẹ chai sạn mà ấm, ấm như đèn dầu trong đêm sương.

“Mẹ ơi, mẹ khoẻ lên cho muội, mẹ khóc muội cũng chảy nước mắt theo mất.”

Cả nhà cười khe khẽ, cái cười run rẩy như cánh hoa lê rung trong gió xuân đầu mùa. Cha lau mắt bằng vạt áo bố, tam ca cúi xuống húp cháo giấu nước mắt, nhị ca thì cắn cắn đũa, đại ca thì ngồi im, hai bàn tay chai sạn đặt trên gối cứ nắm chặt rồi lỏng, nắm chặt rồi lỏng. Ta nhìn khắp bốn phía, thầm nhủ, kiếp này ta có cả một gia đình, có cha có mẹ có ba huynh, ta còn sợ gì trên đời này nữa đâu.

Cơm xong, đại ca dọn dẹp bát đũa, nhị ca ra sân chẻ củi để mai sáng nhóm bếp, tam ca kê lại chiếc bàn tre lên gác bếp cho sạch chỗ đọc sách, cha ra chuồng lợn xem lại tấm phên tre bị gió tối qua thổi hỏng, mẹ đun nước lá sả để cả nhà tắm. Muội ngồi trong lòng đại ca dưới ánh đèn dầu, đưa cho đại ca xem cái kẹp bướm ngọc muội đang cài, nói khẽ:

“Đại ca ơi, mai muội với đại ca bàn kỹ, đơn hàng này to lắm, muội một mình làm không xuể.”

Đại ca gật đầu, bàn tay chai sạm xoa đầu muội một cái, giọng khẽ nhưng chắc:

“Muội cứ nói, việc gì đại ca làm được đại ca lo, việc gì cần nhị ca cần tam ca, đại ca gọi. Muội đừng thức khuya, đại ca không nỡ.”

Đêm ấy, muội nằm trên chiếc giường tre cũ, chăn bông vá bảy chỗ đắp lên tận cổ, mà cứ trằn trọc mãi. Ta trong lòng đếm đi đếm lại, hai mươi cây nến, mười cái kẹp, mỗi ngày phải chế một cây nến rưỡi, cứ một ngày rưỡi phải xong một cái kẹp. Một mình muội chắc chắn không kham nổi, ba huynh phụ giúp thì ổn, nhưng có mấy công đoạn muội không thể để họ đụng vào, vì công đoạn ấy phải nhặt nguyên liệu trong không gian, thứ nguyên liệu ta không thể lộ ra ngoài.

Ta lật qua bên trái, lật qua bên phải, chăn bông cứng vá vụng cứ cạ vào má như con mèo con đòi ăn. Cuối cùng muội nhắm mắt, thầm gọi cửa không gian tâm linh mở ra. Trong khu vườn nhỏ ba sào có suối trong ấy, ta ngồi bệt xuống bên bàn đá, lấy nửa cánh Song Điệp ra ngắm, hơi ấm ngọc truyền từ lòng bàn tay lên tận khoé mắt.

“Mẹ ruột kiếp trước ơi,” ta thầm gọi, “kiếp này ta có thêm cha mẹ nuôi, có ba huynh, nay lại có đơn hàng lớn, ta không dám phụ ai, mẹ phù hộ cho ta chế đủ hai mươi ngày.”

Không có tiếng đáp, chỉ có làn hương thoang thoảng của trầm hương phảng phất trong khu vườn ba sào, hoà với mùi cỏ tơ mới cắt. Ta ngồi thêm một khắc rồi bước ra, mở mắt trên giường tre, thấy trời đã tang tảng sáng, gà đầu ngõ vừa gáy hồi thứ hai.

Sáng ra, cả nhà quây quần bàn kế hoạch. Đại ca nhận việc đóng khuôn tre, chàng khéo tay đục đẽo, có thể làm mỗi ngày mười khuôn nến, mười khuôn kẹp. Nhị ca canh lửa, chàng có mắt nhìn than hồng chuẩn xác, đun sáp ong không bao giờ khét. Tam ca nhận đọc sách sáng đèn cho cả nhà làm việc đêm khuya, chàng bảo có tam ca đọc sách giữ ánh đèn dầu ấm, cả nhà không sợ ngủ gật đầu vào chảo sáp nóng.

“Cha thì đi mua thêm sáp ong ở chợ, chở về nhà cho muội đủ dùng.” Cha vỗ vỗ ngực. “Mẹ nấu cháo tẩm bổ, cả nhà làm hai chục ngày liền không lăn ra ốm được, không thì Bùi công tử đến nhận hàng lấy đâu ra hàng mà giao.”

Muội cười rúc rích, dấu cái không gian tâm linh dưới lớp áo bố cũ, chỉ nhận phần khắc kẹp bướm ngọc và trộn hương trầm hai công đoạn cần bí mật nhất. Trong ba huynh chưa ai biết muội có không gian, ta cũng chưa định nói, cứ để lộ chuyện gia truyền nếu bị dò hỏi.

Mười ngày trôi qua như nước chảy qua khe cạn.

Đại ca dậy trước gà gáy, ngồi ngoài sân đục khuôn tre dưới ánh đèn dầu leo lét, tay chàng thoăn thoắt như tay thợ mộc lâu năm. Mỗi cái khuôn nến to bằng ngón chân cái, khuôn kẹp thì nhỏ hơn, vuông vắn tinh tế. Muội đứng bên chỉ chỗ, dặn đại ca chỗ nào phải mỏng, chỗ nào phải dày, đại ca gật đầu ừ hử, không hỏi câu nào.

Nhị ca ngồi trước bếp than hồng, đôi mắt chàng đen như đèn dầu vừa châm bấc mới, tay quạt lửa đều tay không sai một nhịp. Sáp ong đun trong chảo gang cứ sôi lăn tăn như mặt hồ có gió, không bao giờ khét, không bao giờ trào. Muội đứng bên nhị ca trộn trầm hương vụn vào sáp, ngón tay bé xíu quấy đều đều, mùi trầm ấm áp bốc lên phủ cả gian bếp.

Tam ca ngồi trên gác bếp, đọc sách sáng đèn dầu, giọng chàng trầm ấm như tiếng chuông chùa đầu làng. Chàng đọc Luận Ngữ, đọc Sử Ký, đọc cả những bài thơ Đường muội chưa từng nghe. Ta ngồi làm việc dưới ánh đèn dầu ấy, tay khắc ngọc lam, tai nghe tam ca đọc sách, lòng bỗng an như một chú mèo con nằm trong lòng chủ.

Cha ngày ngày đi trấn Thanh Châu mua sáp ong về, mỗi lần cha vác trên vai một bao lớn, lưng cha còng thêm nửa phân. Mẹ nấu cháo đường phèn cho cả nhà, mỗi bữa cha múc riêng cho muội một chén đặc nhất. Cả nhà thức đến canh ba, ngủ đến canh năm, ai cũng gầy đi một chút, mà mắt ai cũng sáng như đèn dầu vừa châm bấc mới.

Đến ngày thứ mười, muội đã xong bảy cây nến với ba cái kẹp, ba huynh xúm vào phụ hết sức. Cha đem một cái kẹp mẫu ra trấn Thanh Châu định gửi sạp bà phu nhân áo gấm hôm chợ phiên, chưa đi được nửa đường thì đã có ba tiểu thư áo lụa ở trấn tìm đến tận thôn hỏi mua. Muội mới bán được hai cái đã hết veo.

Chuyện lan nhanh như gió đầu mùa, ba ngày sau, tám cỗ xe ngựa của mấy nhà buôn trấn Thanh Châu đỗ đầy ngõ nhà muội, ai cũng đòi đặt hàng kẹp bướm ngọc. Cả trấn Thanh Châu bắt đầu đồn rầm rầm nhà Trần thôn Đào Khê có bí phương gia truyền, nến trầm hương thắp một cây thơm cả canh giờ, kẹp bướm ngọc khắc bằng ngọc lam suối cạn ăn ánh nắng bảy sắc. Người trong trấn kể lại còn kèm thêm bao nhiêu điều thêu dệt, có kẻ bảo con bé nhà Trần là tiên nữ giáng phàm, có kẻ bảo là tổ tiên hiển linh, có kẻ bảo là mộng thần thác báo, chẳng ai đoán được sự thật.

Cha khôn ngoan chỉ nhận thêm ba đơn của ba nhà buôn hiền lành, còn từ chối nhã nhặn các đơn khác, viện cớ muội còn bé, không kham nổi hàng nhiều. Ta thầm khen cha, kiếp trước ta hay nói ăn cỗ đi trước lội nước theo sau, nhưng cha muội hôm nay là ăn cỗ chậm rãi, lội nước cẩn thận, không hấp tấp ăn xổi ở thì đâu.

Ba huynh mệt lử mà không ai than một tiếng. Đại ca cứ đi làm nhà ông Trịnh về là ngồi đục khuôn tre đến khuya, nhị ca canh lửa cả ngày, hai mắt đỏ hoe như quả gấc chín, tam ca thức đêm đọc sách đèn dầu, giọng chàng khàn dần đi mà chàng không chịu nghỉ. Muội thương cả ba huynh đến muốn khóc, nhưng ta biết đây là lúc cả nhà chung sức, muội không được yếu lòng trước.

Đêm thứ mười ba, cả nhà đã xong mười lăm cây nến với bảy cái kẹp, còn năm cây nến với ba cái kẹp là đủ đơn Bùi công tử. Muội ngồi trên giường tre, đại ca ngồi bên cạnh xoa dầu tràm vào bàn tay chai sạn của muội, đèn dầu trên bàn tre leo lét như một hạt sao rơi vào chén nước.

Đại ca đột nhiên hạ giọng, thì thầm bên tai muội, giọng đại ca lo lắng như tiếng đàn tranh đứt dây giữa đêm khuya:

“Kiều Kiều nhi, chiều nay muội đi bên bếp, lão Vương Thái Đường đầu thôn ghé nhà hỏi bí phương, đại ca ra tiếp. Lão hỏi khéo lắm, nói là muốn mua nến trầm hương biếu quan tri phủ, đòi cho lão biết bí phương để lão chế thêm mà biếu đủ, giá gấp mười lần muội bán.”

Muội cứng người, ta trong lòng lạnh toát như bị đổ một chậu sương lên vai. Vương Thái Đường, hào phú tham lam đầu thôn Đào Khê, năm ngoái đã cướp ba mẫu ruộng nhà bác Cả nhị họ bằng cách giả giấy tờ, mấy năm nay ai cũng sợ lão như sợ hùm.

“Đại ca có nhận không?” muội hỏi khẽ.

“Không. Đại ca nói bí phương gia truyền, không giao cho ai, chỉ bán hàng thành phẩm. Lão hừ một tiếng bỏ về, mắt lão gườm gườm nhìn đại ca như muốn ăn tươi nuốt sống. Kiều Kiều nhi, muội phải cẩn thận, gieo gió ắt gặt bão, người này đại ca ngửi ra hôi tanh không tốt lành, mai muội đừng ra vườn một mình, đại ca theo muội.”

Muội gật đầu, ta trong lòng đã nghĩ ngợi cả canh giờ. Kiếp trước ta biết lòng người tham như biển không đáy, đơn hàng Bùi công tử một trăm mười lượng còn chưa nhận đủ, lão Vương Thái Đường đã ngửi mùi bạc mà mò đến. Ta không sợ lão, ta sợ ba huynh với cha mẹ có thể bị lão hại. Bí phương của muội đâu chỉ là bí phương, đó là mái ngói của cả nhà, là áo bông của ba huynh, là chén cháo đường phèn của mẹ.

Đèn dầu trên bàn tre leo lét, bóng của muội với đại ca in lên vách đất, cứ chập chờn như hai chiếc lá đào rung dưới cơn gió đầu đêm. Đại ca kéo chăn bông vá bảy chỗ đắp lại vai muội, bàn tay chàng chai sạn mà ấm, ấm như đèn dầu trong đêm sương muộn.

“Kiều Kiều nhi ngủ đi, đại ca ngồi đây canh, muội đừng lo.”

Ta khép mắt, trong lòng thầm nhủ, mai này lão Vương Thái Đường có đến gõ cửa, muội cũng không sợ, muội còn cả một không gian tâm linh, còn tấm ngọc bội Bùi công tử để lại, còn ba huynh, còn cha mẹ. Nhưng đêm nay, muội chỉ cần một giấc ngủ ngoan trong chăn bông vá bảy chỗ, có bàn tay chai sạn của đại ca đặt bên gối.

Ngoài cửa, sương xuống trắng cả bờ tre, tiếng côn trùng rỉ rả bên hàng rào. Trong bếp, mẹ đã dập lửa nhóm than để dành sáng mai. Trên gác bếp, tam ca đọc xong trang sách cuối, thổi tắt bấc đèn dầu, tiếng thở của tam ca đều đều như mèo con nằm ngủ trưa. Ngõ ngoài, đâu đó có tiếng chó sủa vọng lại từ cuối thôn, nghe như tiếng vọng của một mùa mưa sắp đến.