Muội Là Công Chúa Nhà Nghèo
Chương 9: Khách Sang Ghé Ngõ
Trưa hôm sau chợ phiên, mặt trời đứng bóng, nắng đầu hạ đã bắt đầu chín tới, rót vàng ươm xuống mái tranh thấp lè tè của thôn Đào Khê như rót một chén mật ong sánh đặc.
Muội vừa húp xong bát cháo hoa mẹ nấu, no bụng, ngồi lơ mơ trên ngưỡng cửa gỗ mòn nhẵn, hai chân bé xíu vắt vẻo đung đưa như đuôi mèo con. Mẹ đang giặt cái áo bố nâu của cha ở chum nước ngoài sân, tay mẹ vặn vải, tiếng nước rơi tí tách trên nền gạch mẻ nghe êm như tiếng chuông chùa nhỏ. Đại ca ngồi bên gốc chuối vá lại quai gánh tre bằng sợi mây, tam ca cắp sách ra hè đọc thầm, còn nhị ca thì đang phơi mấy con cá suối lên phên tre. Cả nhà bình yên đến nỗi ta trong lòng thầm nghĩ, kiếp trước hai mươi lăm năm cô độc, chưa có buổi trưa nào đầy đặn như cái buổi trưa hôm nay.
Ta ngồi ôm gối, nhớ lại đêm qua trong không gian tâm linh: hai mươi cây nến trầm hương to hơn đã đúc xong, xếp gọn trong khay tre, mùi trầm ngọt còn váng vất trên ống tay áo bố nhỏ. Đêm nay muội định chế thêm mấy cây kẹp bướm ngọc nữa, kịp cho phiên chợ tuần sau đại ca đi hộ tống. Trong đầu ta đang bận nghĩ, có nên trổ thêm một đường vân sương mai bên rìa cánh bướm không, thì…
Bên kia rào tre, có tiếng người kêu ối một cái, tiếng rổ nan rơi cạch xuống nền đất khô, khoai lang lăn lóc long cong. Tiếp theo là tiếng mấy con chó cỏ trong xóm sủa loạn xạ, sủa loạn đến mức ba đứa trẻ chăn trâu đang cưỡi trên lưng con nghé đen cũng phải nhổm dậy nhìn theo.
“Chậc chậc, giời ạ, giời ạ…”
Đó là tiếng bà Tư hàng xóm, cái miệng ngày thường nhanh như chợ vỡ, giờ lại nghẹn ba tiếng chậc liền như trâu bị nghẹn cỏ. Bà Tư đứng bên rào, một tay còn ôm nửa cái rổ khoai, tay kia đưa lên trước ngực, mắt tròn xoe nhìn ra đầu ngõ.
Muội tuột khỏi ngưỡng cửa, chạy hai bước tới bên hàng rào tre, nhón chân, ngước cái đầu tí hon lên nhìn theo hướng bà Tư trợn mắt. Vừa nhìn ra, hai con mắt bé xíu của muội cũng tròn ra bằng miệng chén.
Ở ngay đầu ngõ nhà muội, giữa lối mòn lấm bùn khô, dừng chình ình một cỗ xe ngựa đen bóng như sơn mài, thân xe khảm bạc chạy chỉ theo hình mây quyển, bánh xe cao ngang lưng người lớn, nan hoa đánh bóng đến mức nắng chiếu vào đau cả mắt. Hai con ngựa kéo xe, con nào con nấy cao đến vai đàn ông, lông đen tuyền như mực Tàu, cổ đeo chuông đồng nhỏ, mỗi cái vẫy đuôi là chuông kêu leng keng leng keng như tiếng đàn hồ cầm buổi sớm.
Người đánh xe mặc áo lụa xanh chàm, đầu bịt khăn vải, hai tay còn siết cương, mà nhìn dáng ngồi thẳng như cây thước gỗ đã biết ngay đây không phải hạng phu xe thường ở chợ trấn. Trên nóc xe, mấy tấm mành trúc mỏng phất phơ, thoảng ra mùi tùng bách khô ướp cùng trầm nhẹ, thứ mùi mà thôn Đào Khê nghèo cả đời chưa từng ngửi qua.
Ta trong lòng lập tức khép chặt cái nhịp thở của mình lại. Kiếp trước ta làm việc trong xưởng mỹ nghệ tiếp không biết bao nhiêu khách hạng, ta biết loại xe kia không phải xe của thương lái tầm thường. Xe thương lái người ta không dám khảm bạc, cũng không dám nuôi cặp ngựa đen kéo song. Chỉ có nhà đại phú, hoặc phủ đệ trong Kinh Sư, mới có cỗ xe khoác cả mùi tiền trên thành gỗ như thế.
Cái nhà nghèo lợp cỏ tranh vá bảy chỗ này, lấy đâu ra khách sang thế nhỉ?
“Kiều Kiều nhi, con vào nhà!”
Mẹ ở sau lưng muội bỗng gọi giật một tiếng, giọng còn dính chút mồ hôi vì đang vặn áo. Mẹ vội vàng vảy nước ở tay vào chậu, kéo muội một cái, nhét muội đứng sau lưng mẹ, một tay mẹ ôm lấy vai muội, tay kia mẹ vén tà áo che ngang trước ngực muội như che một cái đèn dầu sắp bị gió thổi.
“Ai đấy nhỉ, xe đẹp thế…”
Mẹ lẩm bẩm, giọng mẹ khe khẽ nhưng nghe run run. Ta hiểu lòng mẹ, kiếp này mẹ cả đời chưa hề đối diện với người ngồi xe khảm bạc, mẹ sợ, mẹ sợ đúng như bà Tư bên rào tre đang sợ, sợ đến độ nửa rổ khoai lang lăn ra đất mà bà quên nhặt.
Đại ca thấy động, bỏ cây kim mây xuống, chạy ra sân, hai vai đại ca kéo thẳng như cột đình, đứng chắn ngay trước bậc thềm. Tam ca thì cầm quyển sách chống bàn tay xuống đầu gối, lặng lẽ đứng dậy, giấu quyển sách sau lưng, mắt đảo về phía cha đang ở gốc mít sau vườn. Nhị ca vội vàng bỏ mấy con cá xuống mẹt, chùi tay vào vạt áo bố, chạy ra đứng bên đại ca. Ba huynh đứng ba góc, cả ba vô hình chung tạo thành cái hình chân bàn kiềng vững chắc quanh muội, không hẹn mà nên.
Cha ở sau vườn nghe tiếng động, chạy ra, còn đội nguyên cái nón lá đã sờn vành. Cha vừa ra đến sân, vừa nhìn thấy cỗ xe ở đầu ngõ, cha khựng lại một cái, tay run run tháo nón đội xuống ngực. Ta thấy tay cha run, ta thấy quả táo hầu cha nuốt xuống một cái, cha nói bằng cái giọng khàn khàn lo lắng:
“Kìa… con ơi, người ta đến cửa mình đấy à?”
Đúng lúc đó, mành trúc trên xe ngựa vén lên. Người đánh xe đã nhảy xuống, khoanh tay đứng thẳng bên bậc lên. Từ trong xe, một dáng người bước xuống chậm rãi, chân chưa chạm đất mà đã đủ khiến bà Tư hàng xóm nín thở.
Ta ngước lên nhìn, mắt cũng khẽ giật một cái.
Đó là một thiếu gia trạc mười bảy tuổi, mặc áo lụa trắng ngần như tuyết đầu mùa, cổ áo viền chỉ bạc mảnh như đường chỉ sương, tay áo rộng lấp lánh chỉ nổi hoa vân mây. Người thiếu gia dáng cao gầy, vai xuôi, lưng thẳng như thân trúc non gặp trời quang. Búi tóc gọn cài trâm ngọc trắng, một sợi tóc mai buông xuống bên gò má, tô cho gương mặt vốn đã trắng lại càng thanh nhã.
Cái làm ta chú ý nhất là đôi mắt của chàng. Đôi mắt ấy dài, đuôi hơi vểnh, tròng đen sâu như hai vũng sương đêm chưa tan, mà bên trong lại sáng như hai vì sao vừa ló ở đỉnh núi. Chàng đưa mắt nhìn quanh một lượt cái sân nhà nghèo lát gạch mẻ, ánh mắt không có một chút khinh dễ, cũng không có một chút xót thương giả tạo, chỉ có cái vẻ lạnh nhạt bình thản của người đã quen nhìn thiên hạ như nhìn qua tấm màn sa.
Ta trong bụng lập tức đánh dấu chàng vào một hạng: đây không phải thiếu gia trẻ tuổi thông thường. Kiếp trước ta gặp không ít công tử con nhà giàu, mắt họ nhiều mắt trắng, ít mắt sáng, còn mắt của người này…
Mắt của người này giống mắt người đi tìm.
“Chào tôn ông tôn bà,” chàng khoanh tay trước ngực, cúi đầu chào cha mẹ muội một cái không cao không thấp, đúng lễ. “Tại hạ họ Bùi, tên Cẩn Nguyên, người Kinh Sư, đến thôn Đào Khê xin thất lễ tìm một nhà chế nến trầm hương.”
Giọng chàng trầm, không cao không thấp, nghe êm êm như đáy chiếc chuông chiều gõ nửa nhịp đã ngưng. Cha muội nghe hai chữ Kinh Sư là tay còn run mạnh hơn, cả cái nón lá cầm trước ngực bỗng nghiêng đi một chút.
“Kìa… kìa công tử, xin công tử… vào nhà uống chén nước lá…”
Cha lắp bắp, tiếng “vào nhà” nói ra mà chính cha còn ngại. Nhà mình có cái gì để mời khách kia chứ. Bàn tre thì đã mọt, ghế gỗ thì chỉ có ba cái, chén sứ thì chỉ có sáu cái mà đã sứt hai cái vành. Trà thì làm gì có, chỉ có ấm nước lá ổi vừa mới đun. Ta ở sau lưng mẹ, nắm chặt vạt áo mẹ một cái, thầm nhắc mình bình tĩnh, đầu óc nhanh chóng chạy qua từng khả năng vì sao khách sang lại tìm đến cửa.
Cha muội bán nến ở chợ phiên Thanh Châu mới hôm qua, thời gian này chỉ vừa đủ cho ai đó dò tìm hỏi hàng, mà không đủ cho tin đồn lan đi xa được. Vậy người này, hoặc là có mặt ở chợ hôm qua, hoặc là được ai đó ở chợ đưa tin cho. Kiếp trước ta cũng từng nhận đơn hàng đến sát cửa xưởng như này, chỉ khác một điều: người đến, xưa nay không bao giờ là người bình thường.
“Đa tạ tôn ông.” Bùi công tử vẫn giữ giọng bình thản, khoanh tay cúi thêm một chút. “Tại hạ chỉ xin ngồi ngoài hiên nói vài câu, không dám phiền tôn bà.”
Đại ca nghe đến chỗ khách khách sáo với cha, đôi vai đại ca thả xuống một chút, ánh mắt bớt căng. Đại ca kéo cái ghế gỗ dài đặt bên hiên, phủi phủi bụi trên mặt gỗ bằng cả ống tay áo, mời khách ngồi. Nhị ca chạy đi lấy cái quạt lá cọ mẹ dùng quạt cơm, đưa cho đại ca để đại ca quạt cho khách. Tam ca thì đi ra sau bếp, mấy động tác nhẹ nhàng như chú mèo con, không hỏi một câu mà đã hiểu ý cha: đi bắc thêm ấm nước lá mới, châm thêm nắm chè khô mẹ giấu cho ngày lễ tổ.
Ta thấy các huynh trai của mình mỗi người mỗi việc, thầm cười trong lòng. Kiếp này ta có ba cái mái hiên di động, ba cái đèn dầu ấm, còn có cả một mái tranh của cha mẹ nữa. So với hai mươi lăm năm kiếp trước một mình một bóng, kiếp này của ta như một bát cháo đặc múc từ giữa nồi, nóng đến bỏng miệng mà thơm đến muốn khóc.
Bùi công tử ngồi xuống, hai bàn tay đặt trên đầu gối, ngồi thẳng lưng như hạc đứng bên hồ. Chàng liếc nhìn muội một cái rồi lại thôi, ánh mắt lướt qua mà không lưu lại, giống người ta lướt qua một cánh hoa nhỏ bên đường không gọi tên. Ta biết chàng đã nhìn thấy muội, biết muội là cô nhóc nghèo sáu tuổi, không đáng chú ý. Ta lại càng vui, cái áo cỏ rách rưới của muội chính là cái áo tàng hình tuyệt vời nhất.
Cha ngồi đối diện chàng, đặt nón lá bên cạnh, hai bàn tay chai sạm để trên đầu gối. Cha cố mở miệng, cố nói cho ra một câu bình thường, mà cái tiếng nói cứ nghẹn ở cổ họng như hạt cơm nếp mắc.
“Công tử… hôm nay không nề gì đường xa…”
Bùi công tử tự tay rót cho cha một chén nước lá tam ca vừa bưng ra, động tác chàng ung dung tự nhiên đến nỗi cả cha lẫn đại ca cùng khựng lại nhìn. Người sang ngồi nhà nghèo mà tự tay rót nước cho chủ nhà, ta trong lòng lại đánh thêm một dấu chấm than nữa. Không phải khinh nhà nghèo mà thân ái quá đâu, mà là chàng đang thăm dò. Chàng đang muốn xoá bớt khoảng cách, muốn chủ nhà thấy dễ chịu mà kể chuyện cho chàng nghe.
“Tôn ông không cần khách sáo. Tại hạ đường xa lặn lội đến đây, chỉ vì một câu chuyện nhỏ, mong tôn ông rộng lòng cho vài câu thật.”
Chàng đặt chén xuống, ánh mắt dán vào cha muội, giọng chàng đều đều mà từng chữ nghe rõ như hạt cát rơi trên mặt trống da:
“Hôm qua chợ phiên Thanh Châu, có một bà phu nhân trung niên áo gấm chàm nhạt, mua ở sạp nhà tôn ông một cây nến trầm hương giá nửa lượng bạc. Chuyện có phải như thế không?”
Cha giật mình, đầu gật xuống một cái theo bản năng:
“Dạ… dạ đúng, đúng ạ. Có phu nhân… con bé nhà con làm cây nến, tại tổ tiên nhà nội có bí phương cũ…”
Ta ở sau lưng mẹ, bấm một cái vào mép áo mẹ. Ý ta là: cha ơi, cha đừng nói quá. Mẹ hiểu ý muội, mẹ khẽ đằng hắng một cái. Cha chưa quen với chuyện tiếp thiếu gia áo trắng, cha vốn tính thật thà, thật thà mà gặp người có ý dò, dễ mắc câu như cá lòng tong gặp lưỡi câu ngậm mồi.
“Cây nến đó, sáng nay bà phu nhân đốt thử ở khách sảnh Vân Cẩm Trang. Tại hạ trọ ngay đối diện Vân Cẩm Trang. Mùi hương ngân qua ba bức tường, tại hạ đang uống trà buổi sớm, ngửi thấy một hơi là đứng bật dậy.”
Bùi công tử vẫn giữ giọng bình thản, mà đôi mắt sáng như hai vì sao ban nãy giờ đã tối lại một chút, tối như hai cái giếng sâu chưa thấy đáy. Chàng đưa tay vào ống tay áo, lấy ra một mảnh giấy vàng nhỏ, mở ra đặt trên bàn tre. Mảnh giấy vẽ hình một cái mũi và một cây nến, bên cạnh là hai chữ Trầm Hương viết bằng nét bút thảo lãng đãng.
“Tại hạ đi buôn hương liệu, đã ngửi qua trầm khắp mười ba nước từ Nam Chiếu tới Cao Ly. Trầm nào cũng có mùi ngọt, mà cây nến sáng nay của bà phu nhân đốt lên, ngoài mùi ngọt còn có một hơi lạnh rất mảnh, giống hơi sương sớm đọng trên cành hoa lê. Cái hơi lạnh mảnh đó, tại hạ tìm mười năm, khắp cả Giang Nam chưa gặp lần nào.”
Ta trong bụng, nghe đến hai tiếng hoa lê, không hiểu sao tim lại nhảy lên một cái. Kiếp trước lúc ta chọn mùi hương cho nến của mình, ta có bỏ vào một chút nhựa hoa lê khô, thứ mà chỉ mỗi mình ta nhớ, mà lại có người kể ra được, giọng lại còn chuẩn xác đến vậy.
Chàng liếc nhìn cha một cái, lại tiếp:
“Tôn ông cho hỏi, cây nến ấy… trong nhà có còn không? Tại hạ xin đốt thử một cây, không tiếc bạc.”
Cha đưa mắt nhìn mẹ, mẹ nhìn cha, hai người nhìn qua nhìn lại như hai đứa trẻ bị người lớn hỏi vụng bao khoai lang giấu dưới gậm giường. Nhị ca hiểu ý, chạy vào bếp, một lúc sau bưng ra cái khay tre, trên đó đặt hai cây nến trầm hương to gần bằng cổ tay muội, sáp trắng ngà, khắc hoa văn hoa lê rất tinh xảo, phần bấc bằng lụa nhỏ. Đó là hai cây trong hai mươi cây muội đã đúc đêm qua trong không gian, đêm ấy muội có ý để dành cho phiên chợ tới, nhưng khách đã đến cửa, không lấy ra không xong.
Nhị ca đặt khay tre lên bàn tre, lùi ba bước, đứng bên tam ca vừa bưng thêm ấm nước lá mới thay. Bùi công tử ngồi thẳng lưng, không đưa tay ngay, mắt chàng dừng lại trên cây nến, ánh mắt như đọng lại một chút, giống người ta đọc một câu thơ dài mà chưa dứt.
Rồi chàng chậm rãi đưa tay, cầm một cây nến lên. Ngón tay chàng dài, đốt xương thanh mảnh, móng tay cắt gọn, đúng là bàn tay của người quen cầm bút thảo và cầm cân bạc, không phải bàn tay của người cầm cuốc cầm cày. Ta liếc bàn tay ấy một cái, thấy trên ngón trỏ có một cái sẹo dài mảnh như sợi tơ, nằm ngang gần đốt hai. Sẹo mảnh mà thẳng như đường kiếm.
Ta trong lòng đánh thêm dấu chấm than thứ ba. Chàng biết cầm kiếm.
Chàng đưa cây nến ngang mũi, nhắm mắt lại, hít một hơi rất nhẹ. Cả gian hiên đang ồn ào tiếng gió lay lá chuối, tiếng gà mẹ gọi con ngoài vườn, mà hình như trong khoảnh khắc chàng nhắm mắt, tất cả những âm thanh ấy đều lặng đi một tích tắc.
Muội thấy sắc mặt chàng thay đổi.
Trước, gương mặt chàng trắng, thanh nhã, bình lặng. Bây giờ, đôi lông mày dài chợt nhíu lại, một nếp nhăn mảnh hằn giữa trán như đường bút chì kẻ khẽ. Khoé miệng chàng cắn nhẹ. Hai hàng mi dài run một cái, run thật khẽ mà ta lại nhìn thấy.
Ta biết cái biểu tình ấy. Đó không phải biểu tình khách quen ngửi hàng ra giá. Đó là biểu tình của người đang lục tìm một ký ức đã ố vàng trong đáy hộp gỗ cũ, lục cái ký ức mà mấy chục năm nay không có ai gọi nó dậy.
Cha muội thấy sắc mặt Bùi công tử đổi, cha lo, cha nghiêng người lên một chút, tiếng cha khẽ khàng:
“Công tử… nến này… có chỗ nào không phải hay sao ạ?”
Bùi công tử vẫn nhắm mắt, không đáp ngay. Một nhịp thở, hai nhịp thở, ba nhịp thở. Nhị ca đứng bên tam ca, hai anh em không dám thở mạnh. Đại ca ở đầu hiên, tay siết chặt cái quạt lá cọ, đốt ngón tay hằn trắng. Mẹ ở sau lưng muội, hơi thở mẹ ngưng nửa hơi, cả cái áo mẹ giặt dở còn ướt cứ bám dọc theo lưng mẹ mà mẹ cũng không hay.
Ta ở giữa những nhịp thở ngưng lại ấy, tự nhiên nhớ đến đêm đầu tiên trong không gian tâm linh, khi ta chạm vào nửa cánh bướm ngọc, hơi ấm truyền từ ngọc vào lòng bàn tay, trong đầu ta vang lên một tiếng thì thầm rất khẽ, giọng như của mẹ ruột kiếp trước ta chưa từng gặp: “của con”.
Hôm nay, khi Bùi công tử nhắm mắt hít cây nến trầm hương, ta trong lòng nghe thấy cùng một loại hơi lạnh mảnh như thế lướt qua sống lưng.
Không phải trùng hợp.
Chàng mở mắt ra. Đôi mắt sáng lại, lần này không còn cái vẻ lạnh nhạt của lúc bước xuống xe. Trong lòng đen của con ngươi có một chút ánh trong veo lấp lánh, giống ánh sương sớm đọng ở đầu cỏ tranh khi mặt trời vừa hé.
Chàng đặt cây nến xuống khay tre, hết sức nhẹ nhàng, y như đặt xuống một mảnh sứ ngàn năm. Rồi chàng ngước lên, ánh mắt lần đầu tiên từ khi bước xuống xe dừng thẳng vào mặt muội, một cái nhìn dài, không lướt qua như lúc nãy nữa.
Ta cứng người một cái. Ta biết muội chỉ là con bé sáu tuổi mặc áo bố vá, tóc thắt hai bím ngắn, đứng nép sau lưng mẹ như con mèo con núp sau chân bàn. Ta chưa nói câu nào, chưa cầm cây nến nào, ta không có lý do gì để bị nhìn thẳng.
Vậy mà chàng nhìn muội.
Nhìn muội như đang đối diện với một người trạc tuổi của chàng.
Nhìn muội như đã đoán ra điều gì mà cả cha mẹ và ba huynh trai của muội không biết.
Bùi công tử khoanh tay trước ngực, đứng dậy, hơi cúi mình một cái về phía muội. Cả sân nhà nghèo lát gạch mẻ khựng lại. Bà Tư bên rào tre há hốc miệng đến mức có thể nhét vào cả một củ khoai lang.
Cái vái ấy, cha muội vái công tử áo lụa trắng thì hợp lễ, chứ công tử áo lụa trắng vái con bé sáu tuổi, đấy là chuyện xưa nay hiếm gặp.
Cha muội ngẩn ra, mẹ muội ngẩn ra, đại ca cũng ngẩn ra. Chỉ có muội, ta ở trong lòng đứa bé sáu tuổi này, siết chặt vạt áo mẹ, chờ câu tiếp theo của chàng như chờ một cánh cửa gỗ khẽ hé lộ ra một luồng gió lạnh.
Bùi công tử đứng thẳng dậy, giọng chàng vẫn trầm, mà nghe êm êm như đáy chuông chiều gõ nửa nhịp đã ngưng, chàng nói với muội chứ không phải nói với cha:
“Cô nương chế được thứ hương này, ta tìm mười năm khắp Giang Nam, hôm nay mới gặp một lần.”
Cả gian hiên như bị ai đó bưng chậu nước lạnh dội qua. Ai không nghe được ba chữ “cô nương” thốt ra từ miệng chàng thiếu gia áo trắng, đầu tiên đưa về phía đứa con gái út bé xíu của nhà nghèo nhất thôn.
Đại ca đầu tiên là cứng người, sau đó tay cầm quạt lá cọ khẽ siết chặt. Ta biết trong lòng đại ca lúc này có tiếng chuông báo động: khách sang ghé cửa mà gọi con gái út bằng “cô nương”, chuyện này chuyện gì hay chuyện dữ, đại ca chưa dám nghĩ tới.
Nhị ca nghiêng đầu, đôi mắt lo lắng nhìn muội, tam ca thì cụp mắt xuống, hai ngón tay khẽ vặn nhẹ vào nhau như đang cố nén một câu tự hỏi. Cha muội đưa tay chống lên gối, đứng dậy chưa nổi, giọng cha run:
“Công tử… con bé nhà con… còn bé mà, công tử đừng gọi thế…”
Bùi công tử đưa mắt sang cha, mỉm cười một cái rất nhẹ, ánh mắt lại thoáng cái vẻ bình thản khi nãy trở lại. Chàng đưa hai tay cầm hai cây nến trên khay tre lên, đặt vào ngực áo trong, cẩn thận như cất hai mảnh ngọc, không nói giá cả, cũng không hỏi có bán không.
“Hai cây nến này, tại hạ xin nhận. Bạc, xin tôn ông cho tại hạ ứng trước năm lượng làm tin. Sau nửa tháng, tại hạ sẽ đến chợ phiên Thanh Châu tìm tôn ông đặt đơn lớn hơn, bàn kỹ chuyện chế tác.”
Chàng đưa tay vào ống tay áo, lấy ra một cái túi lụa nhỏ màu chàm, đặt lên bàn tre. Túi lụa mở khẽ, năm cục bạc trắng ngần nằm gọn bên trong, mỗi cục bằng đúng ngón tay út của muội, xếp thành hàng ngay ngắn như năm hạt sương đọng trên chỉ bạc.
Cha muội thấy năm cục bạc, cả hai tay chai của cha đưa lên trước ngực, không dám cầm. Năm lượng bạc, năm lượng bạc là bằng cả một mùa gạo. Cha đứng đó, tim đập thình thịch, mắt cha đảo qua muội, đảo qua mẹ, đảo qua ba huynh trai, cuối cùng dừng lại ở khuôn mặt bình thản của Bùi công tử.
Bùi công tử đứng dậy, khoanh tay chào cha một cái đúng lễ, ánh mắt lướt qua muội thêm một lần cuối, không lâu, chỉ vừa đủ để ta biết chàng đã đánh dấu muội trong lòng chàng.
“Tôn ông tôn bà, tại hạ xin về trấn Thanh Châu trước. Nửa tháng nữa, chợ phiên mùng năm, mong tôn ông đưa con bé và mấy vị huynh đài đến sạp Vân Cẩm Trang, tại hạ sẽ có mặt sớm.”
Cha vâng dạ luống cuống, đưa cả hai tay tiễn khách ra tận cửa ngõ. Bùi công tử bước lên xe, mành trúc buông xuống, người đánh xe khẽ vẩy roi da, đôi ngựa đen bước ra, chuông đồng leng keng leng keng nhỏ dần rồi khuất sau bụi tre đầu ngõ.
Bà Tư bên rào tre, mãi khi chuông xe không còn nghe nữa mới hoàn hồn, cúi xuống nhặt lại khoai lang, mà tay còn run, có mấy củ nhặt lên lại rơi. Ba đứa trẻ chăn trâu cưỡi nghé đen ngoài đường cũng còn ngoái đầu lại nhìn.
Trong sân nhà nghèo lát gạch mẻ, cả nhà đứng chôn chân một lúc lâu. Mẹ mới thở phào ra một cái, tay mẹ vỗ vào vai muội một nhịp nhẹ, giọng mẹ vẫn còn run:
“Kiều Kiều nhi, muội ngồi im cho mẹ vào nấu cháo, hôm nay mẹ mua thêm nắm gạo tẻ, mẹ nấu cho cả nhà một nồi cháo hoa đặc, chiều ăn cho hoàn hồn.”
Ta gật đầu, để mẹ đi vào bếp. Cha muội cầm túi lụa năm cục bạc, hai bàn tay cha vẫn còn run, đưa lên ngang ngực rồi đưa xuống hai đầu gối rồi lại đưa lên. Cha đi ba vòng quanh cái ghế gỗ dài mà chưa nói được câu nào. Đại ca ngồi phịch xuống bậc thềm, thở ra một hơi dài như trâu vừa cày xong sào ruộng. Nhị ca cầm cái khay tre trống, nhìn muội, không hỏi mà mắt đầy câu hỏi. Tam ca chậm rãi lượm quyển sách từ hè, tay tam ca đặt lên vai muội một cái nhẹ, ánh mắt tam ca lặng như giếng nước trong.
Ta ngồi lại ngưỡng cửa gỗ mòn nhẵn, hai chân bé xíu vắt vẻo đung đưa trở lại. Nắng đầu hạ vẫn rót vàng ươm xuống mái tranh, gió lay nhẹ mấy tàu lá chuối bên rào, mà tất cả những cái êm ấm ban trưa như đã bị cỗ xe ngựa đen làm xáo trộn một góc.
Trong đầu ta chạy qua từng câu từng chữ Bùi công tử đã nói. Chàng biết cầm kiếm. Chàng ngửi ra hơi lạnh mảnh của nhựa hoa lê khô mà chỉ mỗi mình ta biết. Chàng gọi muội bằng “cô nương”. Chàng dặn nửa tháng sau đến sạp Vân Cẩm Trang, sạp mà bà phu nhân áo gấm chàm nhạt hôm qua đã dặn.
Kiếp trước hai mươi lăm năm ta cô độc, ta chưa từng gặp một khách hàng nào ứng trước năm lượng bạc chỉ sau ba cái hít trầm. Kiếp này mới sáu tuổi, ta đã gặp. Câu chuyện này quả không đơn giản như đường phèn thả vào chén cháo nóng.
Ta ngước nhìn cha đang đi ba vòng quanh cái ghế gỗ, ta ngước nhìn ba huynh còn đang bàng hoàng, ta ngước nhìn bụi tre đầu ngõ nơi cỗ xe đen vừa khuất, tự nhắc mình trong lòng một câu.
Nâng như nâng trứng, ta phải nâng cả cái nhà nghèo này qua nửa tháng tới. Có tiếng có miếng cũng phải cẩn thận, không tiếng không miếng lại càng phải cẩn thận. Cỗ xe đen chạm bạc kia không chỉ mang đến năm lượng bạc, nó còn mang đến một cơn gió lạ, cái gió lạ ấy chưa biết là gió mát rượi buổi mai hay gió trở trời buổi tối.
Chỉ biết một điều: Bùi công tử ấy, gọi muội bằng “cô nương”, ánh mắt chàng khi nhìn muội lần cuối, không giống ánh mắt nhìn một đứa bé.
Chàng nhìn muội, giống người tìm mười năm, hôm nay mới gặp một lần.