Muội Là Công Chúa Nhà Nghèo

Chương 8: Nồi Cháo Đường Phèn

Nắng đứng bóng thì cha con muội cũng vừa đến cổng ngõ nhà mình. Cây tre già bên hàng rào rung nhẹ trong gió trưa, ba cái lá đào rụng xuống mái tranh nghe rào rạo như tiếng ai đó thì thầm. Cha vẫn ẵm muội trên vai, hai chân bước đi loạng choạng như say rượu, nhưng bàn tay siết chặt cái khăn nâu buộc quanh eo thì không lỏng ra một giây nào.

Mẹ đang ngồi bậc thềm gạch mẻ, tay cầm cái rổ mây, miệng chớp nhả sợi mây nghiến ướt để đan lại vành rổ đã bong mối. Nghe tiếng bước chân cha, mẹ ngước lên, đôi mắt mẹ đêm qua thức trắng vẫn còn quầng thâm mờ mờ, cái búi tóc đằng sau bạc mấy sợi tơ non lấp ló dưới ánh nắng.

“Ông về sớm thế, chợ phiên đóng mất rồi hả?”

Cha không đáp, cha đặt muội xuống nền sân, hai chân cha khuỵu, cha ngồi phịch xuống bên mẹ. Cha đưa tay run run tháo khăn nâu ra khỏi eo, mở ra từng lớp một, chậm như đang tháo cái tổ chim non trên cành đào.

Trong khăn nâu, hai cục bạc trắng ngần nằm chồng lên nhau, một cục nhỏ bằng hạt cau, một cục to bằng ngón tay cái. Nắng trưa rọi thẳng, bạc trắng phản chiếu ra một vệt sáng nhỏ, lấp lánh ngay giữa lòng bàn tay cha.

Mẹ chớp mắt một cái, chưa hiểu.

Cha nghẹn giọng:

“Nhà mình, mẹ nó ơi, nhà mình bán được hai lượng bạc.”

Mẹ cứng người. Cây kim đan trên tay mẹ rơi cái tách xuống thềm gạch. Mẹ nhìn cha, mẹ nhìn hai cục bạc, rồi mẹ nhìn muội đứng bên cạnh. Muội thấy môi mẹ run một cái, rồi hai cái, rồi mẹ ngồi phịch hẳn xuống, cả người đổ nghiêng sang vai cha. Mẹ khóc.

Mẹ khóc như trẻ con.

Hai tay mẹ run rẩy chìa ra, muốn cầm mà lại không dám cầm, sợ mà lỡ tay làm rơi mất một cục thì mẹ đâm đầu xuống giếng cũng không có mặt về gặp tổ tiên. Mẹ chỉ dám dùng đầu ngón tay chạm khẽ vào cục bạc to, chạm xong lại rụt tay lại như bị bỏng, rồi lại chạm, rồi lại rụt. Nước mắt mẹ nhỏ giọt xuống lòng khăn nâu, thấm vào lớp vải nâu bạc đã sờn, làm nên một vệt tròn xoe đậm màu.

“Ông ơi… ông ơi, cả đời ta chưa cầm quá một xâu tiền trong bàn tay mình, ông đừng đùa với ta, ông đưa ta lên xem có phải bạc thật không, hay là bạc giấy, hay là ai đó lừa cha con ông ngoài chợ…”

Cha vừa lau nước mắt vợ vừa lau nước mắt mình, giọng cha nghẹn ứ:

“Bạc thật, bà nó, bạc thật đấy, hai vị khách sang ở trấn Thanh Châu mua nến với kẹp bướm của Kiều Kiều nhi. Một bà phu nhân áo gấm chàm mua cây nến trầm hương nửa lượng bạc, một cô tiểu thư áo hồng mua cái kẹp bướm ngọc một lượng bạc. Hai lượng gộp lại đây, đây đây…”

Ta trong lòng đứng nhìn cảnh này, đầu óc bâng khuâng. Kiếp trước ta mồ côi từ nhỏ, chưa được thấy cảnh cha mẹ ngồi ôm nhau khóc vì mừng chuyện con cái ra tiền. Ở cô nhi viện tường trắng nền lát, mọi thứ đều sạch sẽ mà lạnh như đá. Kiếp này, ngồi trên bậc thềm gạch mẻ giữa nắng trưa, nghe cha nghẹn ngào, nghe mẹ nức nở, muội thấy trong lồng ngực có một luồng ấm nghẹn ứ, ấm hơn cả nồi cháo mẹ nấu sáng nay, ấm hơn cả cục than hồng trong lò đêm hôm muội sốt.

Cha đâu chỉ đưa hai cục bạc, cha đưa cả một tia nắng chưa ai từng thấy, chiếu vào giữa lòng bà mẹ tưởng đã sờn rách của kiếp này. Cha ơi, muội thầm nghĩ, cha đâu có biết muội hạnh phúc như thế nào.

Tiếng khóc mẹ vang qua bờ tre, đại ca đang cày nốt vạt bãi dưới lập tức đội nón lá chạy về, vừa chạy vừa gọi to:

“Mẹ ơi, có chuyện gì thế mẹ, cha có sao không mẹ, Kiều Kiều nhi có sao không mẹ ơi…”

Đại ca mười lăm tuổi, chân dài như tre nứa, chạy một mạch từ bãi dưới lên đến sân, mồ hôi thấm ướt cả cổ áo bố. Nhị ca ở bếp đun nước lá vông cho mẹ chữa mất ngủ, cầm luôn cái vỏ ống thổi lửa chạy ra. Tam ca đang ngồi bàn tre đọc quyển “Nhân Sinh Thảo” mượn nhà thầy đồ Vương, gấp sách lại thật khẽ, đi ra hiên. Ba huynh, ba dáng ba khác, mà cùng chung một khuôn mặt hoảng hốt.

Đến khi nhìn xuống, thấy hai cục bạc trắng ngần trên lòng khăn nâu, ba huynh cùng đứng khựng lại như bị ai chôn chân xuống sân đất.

Đại ca ngoác miệng, nói năm câu mà không thành lời:

“Đâu… hai… bạc… hai lượng… Kiều Kiều nhi…”

Nhị ca chớp mắt liên tục ba cái, đưa tay chấm mắt ướt, giả vờ chấm mồ hôi. Nhị ca xưa nay khô khan như củ khoai lang phơi ba nắng, gặp chuyện lớn nhỏ trong nhà đều là người bình tĩnh nhất, thế mà hôm nay nhị ca cũng run run.

Tam ca thì lặng, gương mặt trắng trẻo của tam ca đỏ ửng lên như phía đông sáng mai. Tam ca không nói câu nào, chỉ bước tới gần muội, cúi thấp xuống, nhìn muội bằng cặp mắt trong veo, hỏi một câu duy nhất:

“Muội mệt không?”

Muội lắc đầu, cười thật tươi. Kỳ thực hai chân muội bé xíu, cưỡi vai cha đi đường mười dặm, đôi chân giờ mỏi đến run, mà muội không nỡ để tam ca biết. Muội chỉ chìa hai bàn tay ra, tay bé xíu như nắm cơm nếp mẹ gói, chỉ vào cha:

“Cha khỏe hơn con trâu Mực nhà bác Cả, cha cõng muội đi ba lượt Thanh Châu cũng không mệt.”

Cả nhà cùng bật cười. Cha vừa cười vừa lau nước mắt vợ, mẹ vừa cười vừa đấm nhẹ vào vai chồng, đại ca cười khùng khục, nhị ca cười nhoẻn miệng, tam ca cười khẽ mà mắt đã ướt. Đàn gà con dưới sân bị đám cười lây, cũng chạy loăng quăng xung quanh chân người, kêu chíp chíp như đang tán thưởng.

Mẹ dụi nước mắt, xốc cái vạt áo bà ba đã bạc màu, bảo:

“Vào nhà đi cả nhà, vào nhà mình bàn chuyện, đứng giữa sân thế này bà con hàng xóm nghe được lại đồn nhà Trần có chuyện to.”

Cả nhà lũ lượt vào gian giữa. Cái bàn tre thấp lè tè, bốn cái ghế đẩu vá bằng đinh sắt, một cái chõng tre kê góc cho tam ca đọc sách. Mẹ trải cái khăn nâu ra giữa mặt bàn, hai cục bạc nằm giữa khăn như hai giọt sương đọng trên lá đào. Cả năm đôi mắt cùng dán vào hai cục bạc ấy, im lặng đến độ nghe được cả tiếng thạch sùng tặc lưỡi trên xà nhà.

Cha hắng giọng, mắt cha đỏ hoe nhưng giọng đã bình tĩnh trở lại:

“Nhà ta bây giờ có hai lượng bạc, con nhi nhi thức ăn cả tuần chưa từng có nhiều tiền như thế trong tay. Cha bàn thật với các con, hai lượng này tiêu vào đâu, mỗi đứa nói một câu, đừng để cha một mình quyết vội.”

Đại ca bụm tay lên trán suy nghĩ, ngừng một hồi rồi nói giọng chắc nịch:

“Cha, con nghĩ nên mua gạo. Trong lu chỉ còn nửa bơ, mua ba đấu trắng, một đấu nếp, dành gói bánh cho tam đệ mang đi thi tú tài sang năm. Còn dư mua thêm chum để trữ, mưa dột nhà mình cả năm rồi, gạo nào cũng chua ẩm.”

Cha gật gù. Nhị ca cắn môi, cũng nói khẽ:

“Nhị đệ nghĩ khác đại ca. Cha ơi, mẹ mấy tháng nay xanh xao, mắt trũng sâu như hai đồng xu úp ngược, con nghĩ nên mua một cân thịt heo ba chỉ, kho tiêu với nước hàng, cho cha mẹ tẩm bổ. Cha còn phải chăm ruộng, mẹ còn phải nuôi ba đàn gà con, cha mẹ khoẻ thì cả nhà mới có hơi mà thở.”

Mẹ nghe câu ấy, nước mắt lại lăn ra hai bên má rám. Mẹ đưa tay bịt miệng, khẽ lắc đầu:

“Nhị nhi ơi, tiền để cho tam đệ mua sách quan trọng hơn. Mẹ với cha đói mấy tháng rồi cũng quen, thân già cứng như tre già, có cái ăn cái mặc là được, không cần tẩm bổ chi.”

Tam ca lúc này mới lên tiếng, giọng khàn khàn của một thiếu niên mười bốn tuổi:

“Cha, mẹ, hai anh, tam đệ nghĩ…”

Tam ca dừng một chút, ánh mắt nhìn về phía tủ sách nhỏ kê góc phòng. Trên đó chỉ có ba quyển “Tứ Thư” quăn mép, một quyển “Nhân Sinh Thảo” mượn nhà thầy đồ Vương, và một hộp mực khô đã cạn.

“Tam đệ định xin nửa lượng bạc mua quyển tự vựng Đại Ninh mới, mua thêm hộp mực và hai cây bút lông cán trúc. Kỳ thi sang năm, đề Tú Tài trấn Thanh Châu tam đệ đã đọc kỹ, phải có tự vựng mới chú giải cho các chữ khó…”

Nói đến đây, tam ca cụp mắt xuống, gò má trắng đỏ ửng lên:

“Tam đệ biết là tự tư, nhưng tam đệ hứa, đỗ Tú Tài xong tam đệ đi làm thầy đồ thay thầy Vương ở nhà giáp, mỗi tháng đem về nửa lượng bạc cho cha mẹ.”

Cả nhà lặng đi. Ta trong lòng thầm cảm phục tam ca, cậu bé mười lăm tuổi mà đã tính đường về sau. Đại ca lẳng lặng gật đầu, xoa đầu tam ca một cái. Nhị ca hắng giọng chống chế:

“Sách vở là chuyện đại sự, tam đệ nói đúng, nhị ca vừa nãy nghĩ hơi ngắn.”

Cha bấy giờ quay sang muội, giọng cha trìu mến như đưa cái võng ru đứa nhỏ:

“Kiều Kiều nhi, muội là chủ hàng, hai lượng bạc này do muội mà có, muội nói cha nghe muội muốn tiêu vào đâu.”

Muội ngồi trên đùi cha, hai chân bé xíu buông thõng chưa chạm sàn. Muội nhìn qua mẹ. Mẹ vẫn đang lấy vạt áo lau khoé mắt, hai bên má lúm đồng tiền của mẹ hôm nay sao mà mờ đi, chỉ còn lộ ra cái mệt mỏi lẫn hạnh phúc chồng chất.

Ta trong lòng đã tính từ lúc còn trên vai cha đi về, kiếp này muội có một điều nhất định phải làm trước.

“Cha ơi, muội xin cha một chuyện.”

“Muội cứ nói, cha nghe.”

“Cha đi tiệm ông Lý ngoài đầu thôn, mua giúp muội hai lạng đường phèn. Muội xin mẹ nấu một nồi cháo đường phèn, nồi to nhất, mỗi người một chén thật đầy, ăn cho ấm bụng. Ba đêm nay mẹ khóc, mẹ mấy tháng nay xanh xao, mẹ chưa được ăn miếng gì ngọt. Muội xin cha, cho muội đãi mẹ một nồi cháo đường phèn trước.”

Cả nhà lặng đi lần nữa.

Mẹ ngước lên nhìn muội, ánh mắt mẹ mở to như hai vầng trăng non chưa tròn. Mẹ đưa tay run run lên môi, che một tiếng nấc. Nồi cháo đường phèn với nhà giàu là chuyện bình thường, thậm chí cả cô con dâu Vương Thái Đường đầu thôn còn không thèm ăn. Nhưng với mẹ, hai lượng đường phèn nghĩa là ba xâu tiền, mà ba xâu tiền là cả một tuần gánh mạ dưới bãi.

Mẹ khóc oà. Lần này mẹ khóc không giấu, mẹ ôm chầm lấy muội, hai cánh tay chai sạm của mẹ ôm chặt cái thân bé xíu, nước mắt mẹ nhỏ lên tóc muội. Mùi mồ hôi mẹ thấm qua áo bà ba, có mùi bồ kết, có mùi khói bếp, có mùi trấu rơm, tất cả gộp lại thành một mùi ấm mà kiếp trước ta chưa từng biết. Mùi ấy ta thầm gọi là mùi mẹ.

“Kiều Kiều nhi… Kiều Kiều nhi con ơi, mẹ đâu cần ăn cháo đường phèn, mẹ chỉ cần con khoẻ mạnh, ba đứa con khỏe mạnh, ông nhà khoẻ mạnh, là mẹ ăn cháo trắng suốt đời cũng ngọt như đường.”

Ta trong lòng bồi hồi. Muội vòng hai cánh tay bé xíu qua cổ mẹ, áp má vào má mẹ, giọng ngọt lịm:

“Mẹ ơi, chính vì mẹ khoẻ thì cả nhà mới có mẹ, muội mới có mẹ. Nếu mẹ ốm, mẹ không nấu cháo cho muội ăn nữa, ai dạy muội gói bánh chưng, ai gội đầu bồ kết cho muội, ai đắp chăn cho muội ban đêm. Mẹ đừng nhịn miệng nữa mẹ ơi, hai lượng đường phèn thôi mà, đâu có bao nhiêu.”

Cha đưa tay lau nước mắt vợ, quay sang đại ca, giọng cha kiên quyết:

“Đại nhi, con dắt cha đi tiệm ông Lý, mua hai lạng đường phèn, mua thêm một cân gạo tẻ mới, hôm nay cả nhà ăn một bữa ra bữa. Cha còn đi mua thêm hộp mực và một cây bút lông cho tam đệ, chuyện chợ Thanh Châu, cha và tam đệ đi lần sau.”

Đại ca dạ một tiếng thật to, quẹt tay chùi mắt, đội nón lá ra ngõ đợi cha. Cha xé một cục bạc nhỏ, thay đổi ở tiệm ông Lý ra tiền xâu để tiện tiêu, còn cục bạc to gói kín trong ba lớp khăn giấu vào rương gỗ đầu giường mẹ.

Cha đi rồi, mẹ mới đứng lên, kéo tay muội vào bếp. Nhị ca xách nước, tam ca nhóm lửa, muội đứng bên vò gạo. Gạo mẹ vo trong cái chậu sành mẻ ba miệng, gạo cũ mấy tháng, hạt gạo mờ mờ vàng, thế mà nắng chiều rọi qua chái bếp, gạo hạt nào cũng như ngọc trai nhỏ.

Ta trong lòng thấy ấm áp lạ lùng. Kiếp trước ta ăn cơm ở quán, ăn cháo trong hộp giấy, ăn xong vứt đi chưa từng nghĩ cái nồi cơm nấu bằng tay là cái nồi thế nào. Kiếp này đứng bên chum sành mẻ ba miệng, ngón tay bé xíu vò gạo cùng mẹ, muội thấy trong lòng có một loại no khác, no ở tim.

Đến khi cha về, cha đưa mẹ một cái túi vải nhỏ gói hai lạng đường phèn cục. Đường phèn cục to bằng đầu ngón tay, trắng ngần trong veo, ánh nắng xuyên qua đường phèn hắt ra bảy vệt sáng nhỏ trên vách bếp. Cha còn cầm một cây bút lông cán trúc mới, thân bút đen bóng, dí vào tay tam ca. Tam ca cầm bút, tay run run, khẽ vái cha một cái không nói được lời nào.

Mẹ đổ gạo vào nồi đất, đổ ba bát nước đầy. Muội đứng bên cạnh, cầm cái đũa cả gỗ đào cha vót cho hôm tết Đoan Ngọ năm ngoái. Muội quấy nồi cháo theo tay mẹ, gạo dần nở ra, cháo bắt đầu sôi lăn tăn, hơi trắng bốc lên phảng phất, có mùi thơm nhẹ của gạo mới. Đợi cháo nhừ, mẹ mới bẻ đường phèn cục thả vào nồi, mỗi cục vàng ươm chìm dần xuống, tan ra như tuyết gặp nắng xuân. Muội quấy thêm, nồi cháo dần chuyển từ trắng đục sang vàng nhạt, hơi thơm ngào ngạt cuộn lên khắp bếp, chui ra cửa, len qua bờ rào, thơm tới tận nhà bà Tám hàng xóm.

Bà Tám ngoài rào ngó vào, khẽ hỏi:

“Nhà bà Trần hôm nay nấu gì mà thơm thế, có phải cháo đường phèn không?”

Mẹ đứng bếp, cười tủm tỉm:

“Bà Tám ơi, mai bà lại đây tôi múc cho bà nửa chén, hôm nay Kiều Kiều nhi nhà tôi khoẻ, tôi nấu cho cả nhà một nồi mừng.”

Bà Tám cười to, xin phép về, còn ngoảnh lại dặn:

“Bà nấu ngon thế nhất định cho tôi nếm với nhé, tôi mấy chục năm chưa được ăn cháo đường phèn, nhớ ơi là nhớ.”

Ta trong lòng thầm ghi nhớ chuyện này. Ở nhà nghèo, một nồi cháo đường phèn không chỉ là một nồi cháo, mà là một tấm khăn ấm phủ lên cả xóm, phủ lên cả những đôi mắt đã quên vị ngọt. Muội sẽ nhớ, ngày nào nhà mình mua được thùng đường phèn, muội sẽ đích thân bưng nửa chén sang cho bà Tám, người mấy tháng nay đêm đêm ru muội ngủ bằng tiếng ho lụ khụ ngoài rào.

Cháo chín, mẹ múc năm cái chén sành, mỗi chén một muôi đầy có ngọn. Chén cha đầy nhất, chén mẹ mẹ tự múc ít, muội thấy mẹ định múc ít cho mình, muội lén thò tay cầm cái muôi múc thêm cho mẹ một muôi nữa. Mẹ nhìn muội, cười khẽ, không cản.

Cả nhà ngồi quanh bàn tre. Cha ngồi đầu, mẹ ngồi bên tay trái, muội ngồi giữa hai người, ba huynh ngồi bên tay phải. Muội đưa cha chén cháo trước tiên. Cha bưng chén, xúc một muỗng, thổi phù phù rồi húp một hớp thật khẽ. Cha nhắm mắt, gương mặt cha rám nắng bỗng giãn ra, giọng cha nghẹn:

“Ngọt… ngọt như đường phèn… ngọt vào tận tuỷ…”

Mẹ húp một hớp, mẹ khóc. Đại ca húp một hớp, đại ca cắn răng nuốt, mấy giọt nước ứa ra mà đại ca chối bảo là vì cháo nóng. Nhị ca húp một hớp, nhị ca lẳng lặng ngước lên nhìn mẹ, không nói câu nào, chỉ đặt chén xuống, xúc một muỗng cẩn thận đưa cho mẹ:

“Mẹ ăn thêm đi, chén mẹ ít quá.”

Mẹ nhận muỗng cháo, rưng rưng.

Tam ca húp một hớp, tam ca hạ chén, ngồi im lặng thật lâu. Rồi tam ca ngẩng lên nhìn muội, giọng khàn khàn:

“Muội muội, tam ca chưa từng ăn cháo nào ngọt như thế này. Sau này tam ca đỗ Tú Tài, đỗ Cử Nhân, đỗ Trạng Nguyên, tam ca sẽ mua đường phèn cả thùng cho mẹ, mỗi ngày mẹ ăn một chén cháo đường phèn.”

Muội cười, hai má lúm đồng tiền:

“Tam ca hứa nhé, tam ca không được nuốt lời.”

Tam ca gật đầu chắc nịch.

Muội húp một hớp cháo. Cháo nóng, đường phèn tan trong cháo ngọt lịm mà không gắt, có vị ngọt thanh thanh của gạo mới nhừ, có vị dịu dịu của đường phèn cục, có vị ấm của tất cả những gì gọi là mái nhà. Ta trong lòng thầm nghĩ, kiếp trước hai mươi lăm năm chưa từng có chén cháo nào thơm bằng chén cháo này. Kiếp trước ta ngồi ăn một mình trong xưởng mỹ nghệ, cháo lỏng trong hộp giấy, tay còn dính bụi ngọc lam, cháo húp ba muỗng đã bỏ đi vì không có ai ngồi cùng. Kiếp này ngồi bên năm người, húp một hớp cháo, muội thấy trong tim mình có một cái ngăn nào đó đã kín cửa hai mươi lăm năm bỗng bung ra một cánh nhỏ.

Muội tự dặn mình, kiếp này nhất định không để cái ngăn ấy đóng lại lần nữa.

Cơm chiều xong, mẹ rửa bát dưới cầu ao. Cha ngồi hiên vót đũa mới bằng cây tre già chặt vườn sau. Đại ca ra rẫy dặm nốt vạt bãi dưới. Nhị ca xách cần câu ra ao thả câu cá diếc cho ngày mai. Tam ca ngồi bàn tre, thắp một cây nến trầm hương cha cho phép đốt mừng, mở quyển tự vựng mới cha vừa mua, tay vuốt trang sách trắng ngần như vuốt tay em bé.

Muội trốn ra sau bếp, ngồi bên gốc cây đào già bảy mươi tuổi. Bóng đào nghiêng chéo, nắng chiều xuyên qua kẽ lá rọi xuống mặt muội thành mấy đốm sáng lung linh như những cánh bướm nhỏ chờ bay. Muội nhắm mắt, khẽ mở lòng bàn tay.

Đường sáng lại loé lên, cửa không gian mở ra một khe nhỏ ấm áp, muội bước vào.

Trong không gian, khu vườn ba sào vẫn nguyên vẹn. Con suối nhỏ chảy róc rách, giá gỗ đầy hạt giống hương liệu, bàn đá kê dưới gốc đào con. Muội đi thẳng đến bàn đá, mở hộp gỗ khảm trai. Nửa cái kẹp tóc bướm ngọc lam vẫn nằm trong lớp lụa xanh úa, cánh trái mỏng như sương sớm, khắc chìm hai chữ Song Điệp. Muội đặt tay lên cánh bướm, hơi ấm truyền từ ngọc vào lòng bàn tay, muội thầm thì:

“Ngươi ơi, đêm nay ta phải chế thêm hai mươi cây nến. Ngươi giúp ta nhé.”

Cánh bướm dường như rung một cái nhẹ, ánh ngọc lam ánh lên như đáp lời.

Muội xắn tay áo, lấy ra một cái thau đồng nhỏ đặt trên bếp than trong không gian. Thau đồng trong không gian nóng nhanh mà không cháy tay. Muội bỏ vào thau một khối sáp ong to bằng nắm tay bé, chờ sáp tan chảy vàng óng như mật ong. Trong lúc chờ sáp tan, muội mở ngăn kéo gỗ đào lấy ra một bát trầm hương vụn to hơn lần trước, đây là trầm muội đã sàng lọc kỹ trong hai đêm qua, chọn ra những mảnh trầm có màu nâu đậm nhất, có mùi thơm sâu nhất, đốt lên có vị ngọt lẫn ấm.

Muội trộn trầm hương vụn vào sáp ong đã tan, khuấy đều tay bằng cái đũa gỗ đào. Mùi trầm hoà vào mùi sáp, quyện lên một hương ấm áp toả khắp không gian nhỏ. Ta trong lòng thầm nhớ lại kỹ thuật kiếp trước, nhớ tỉ lệ trầm với sáp, nhớ nhiệt độ khi đổ khuôn, nhớ cả cái cách xoay đũa để bấc lụa không bị nghiêng.

Muội chuẩn bị hai mươi khuôn tre, mỗi khuôn cao bốn tấc, to hơn khuôn ngoài đời một chút. Muội cắt hai mươi sợi bấc lụa, luộc trong nước muối để bấc cháy đều, phơi khô, rồi đưa vào khuôn, cột vào cây tăm tre gác ngang miệng khuôn cho bấc thẳng đứng. Muội cầm thau đồng đổ sáp trầm vào khuôn, đổ chậm và đều, sáp trầm chảy từ miệng khuôn xuống, phủ dần lên sợi bấc lụa, đông lại dần dần thành cây nến vàng nhạt óng ánh.

Hai mươi cây nến, muội làm mất hai canh giờ trong không gian, nhưng ngoài đời chỉ hết vài khắc đồng hồ. Trong không gian, thời gian chảy chậm hơn, một canh giờ ngoài đời bằng gần một ngày trong đây, muội có thể chế đủ đơn hàng lớn mà không ai bên ngoài nghi ngờ gì. Đây là ơn phước Ngươi cho ta, ta phải dùng cho khéo.

Xong hai mươi cây nến, muội xếp gọn vào một cái sọt tre nhỏ, đậy khăn bố kín. Muội bước ra khỏi không gian, mở mắt ra thì trời đã nhá nhem tối, mấy con đom đóm bắt đầu đậu trên cành đào. Muội cầm sọt tre đưa ra sân, ba huynh đang ngồi chờ cha vót đũa xong.

Nến thơm 'Đen Trầm Tính' · Trạm Hương, hương gỗ trầm ấm

Nến thơm 'Đen Trầm Tính' · Trạm Hương, hương gỗ trầm ấm

179.000đ

Xem chi tiết →

Nến trong sọt to hơn cây nến trước một chút, cây nào cây nấy đều tăm tắp như những đóa hoa sáp, khắc hoa văn hoa lê tinh xảo bên thân. Muội đặt sọt lên bàn tre, thưa với cha:

“Cha ơi, muội vừa chế xong hai mươi cây nến, đủ cho phiên chợ tuần sau. Bà phu nhân dặn muội mang thêm ba cây, cô Ngọc Nhi dặn muội mang thêm hai cái kẹp bướm ngọc, còn dư mười lăm cây nến, muội định bày sạp riêng, đón thêm khách qua đường.”

Cha há hốc miệng nhìn hai mươi cây nến trong sọt, cha vò đầu, hỏi:

“Con… con chế lúc nào mà cha không thấy con vào bếp một chút nào?”

Muội cười tinh nghịch, khẽ đáp:

“Cha ơi, muội có bí quyết riêng, muội xin phép cha đừng hỏi. Chỉ cần cha tin muội, muội hứa mọi thứ đều là muội tự tay chế, muội không nợ nần ai.”

Cha nghe thế, gật đầu tin ngay. Cha là người thật thà chất phác, con gái nói gì cha tin nấy. Đại ca thì cau mày ngẫm nghĩ, đại ca xưa nay tinh mắt hơn cha, đại ca ngờ muội có bí mật riêng, nhưng đại ca cũng không hỏi. Đại ca chỉ vươn cánh tay chai sạm cầm một cây nến lên, ngửi một cái, khẽ khàng nói:

“Cây nến này thơm hơn cây trước, hương trầm dày hơn, chắc chắn bán được giá cao hơn.”

Muội gật đầu, mỉm cười tinh nghịch:

“Đại ca ơi, đúng rồi, muội tính rồi, mỗi cây nến to này bán được sáu xâu tiền, tức là hơn nửa lượng bạc. Hai mươi cây gộp lại đủ mười lăm lượng.”

Cả nhà nghe con số ấy lại cùng lặng đi. Mười lăm lượng bạc. Số ấy ở nhà bà Tám hàng xóm đủ mua cả một vườn đào, ở nhà ông trưởng thôn đủ cưới dâu cho con trai út. Ở nhà Trần Đào Khê, mười lăm lượng nghĩa là ba huynh có áo bông mùa đông, mẹ có cái áo lụa cho ngày lễ tổ, cha có đôi hài mới, và trên hết, mái nhà tranh dột nát này có thể lợp lại bằng ngói đỏ.

Ta trong lòng vẫn còn tính chưa xong. Muội quay sang đại ca, giọng đã bớt non nớt, nghiêm túc như một tiểu chủ hàng:

“Đại ca ơi, phiên chợ Thanh Châu tuần sau, muội định thuê một sạp có mái che, ngay gần sạp Vân Cẩm Trang bên phố đông, chỗ bà phu nhân dặn. Sạp thuê tốn một xâu tiền một buổi, mà bù lại khách sang qua sẽ nhiều hơn, không phải ngồi chợ chồm hổm bên gốc gạo nữa. Muội muốn có sạp riêng, có che nắng che sương cho hàng, có bàn thấp đàng hoàng để bày nến với kẹp.”

Đại ca gật gù. Cha suy nghĩ một chút rồi cũng gật:

“Có sạp thì tốt, phòng khi mưa xuống, nến với kẹp mất mùi mất hình.”

Muội tiếp:

“Nhưng muội xin cha một điều nữa. Lần này muội mang mười lăm cây nến, ba mươi cái kẹp bướm ngọc, tổng cộng giá trị hai chục lượng bạc, bây giờ đường xa mười dặm, sương lạnh, cướp lẻ trên đường đâu đâu cũng có, muội xin cha cho đại ca đi cùng muội làm bảo tiêu. Cha ở nhà giữ mẹ và nhị ca, tam ca đọc sách. Muội và đại ca đi hai người, sáng đi trưa về.”

Cha khựng lại. Cha đưa mắt nhìn muội, rồi nhìn đại ca. Đại ca vươn thẳng vai, cao hơn cả cha, hai bàn tay chai to như hai cái nắm cơm, dáng vẻ chắc nịch như cây cột nhà.

Cha thở ra một hơi, giọng cha vừa lo vừa mừng:

“Được, đại nhi đi với muội. Đại nhi lớn rồi, giữ được muội, giữ được hàng, giữ được cả cái danh nhà Trần. Chỉ có điều…”

Cha ngừng, cha nhìn muội thật kỹ, giọng cha nghiêm hẳn:

“Kiều Kiều nhi, một mất một còn, con phải giữ lấy hai chục lượng bạc ấy về nhà nguyên vẹn. Không phải vì bạc quan trọng hơn con, mà là vì bạc ấy đổi lấy được cả một mái ngói không dột, đổi lấy được áo bông cho ba huynh mùa đông tới, đổi lấy được sức khoẻ cho mẹ đã xanh xao ba năm. Cha, cha không đòi con phải giữ, cha chỉ mong con giữ được. Con hiểu ý cha không?”

Muội gật đầu, nắm chặt tay cha bằng bàn tay bé xíu. Ta trong lòng thầm khắc ghi câu ấy như khắc chữ vào ngọc lam. Kiếp trước ta chưa ai dặn ta phải giữ cái gì cho ai, kiếp này cha dặn muội phải giữ hai chục lượng bạc cho cả nhà, ta thấy trong lòng ấm mà cũng nặng. Ấm vì cha tin muội, nặng vì cha đã đặt cả gia đình vào lòng bàn tay muội bé xíu này.

Đại ca vươn tay, đặt bàn tay chai sạm lên vai muội, giọng đại ca chắc nịch:

“Cha ơi, có đại ca ở đây, ai đụng vào muội, đụng vào bạc, đại ca lấy cái cày chém một nhát cho biết. Cha yên tâm.”

Cha bật cười, mẹ đứng ngoài bếp cũng cười. Ba huynh cùng vây quanh bàn tre, năm gương mặt cùng bừng lên trong ánh nến trầm hương, mùi trầm ấm len khắp gian nhà, quyện với mùi cháo đường phèn còn thoang thoảng, tạo nên một mùi ấm áp muội đã tưởng chỉ có trong mộng.

Đêm đó, muội nằm trên chăn bông vá bảy chỗ, đầu gối lên đùi mẹ. Mẹ khe khẽ hát một câu ru dân gian, giọng mẹ khàn nhưng hiền:

“À ơi… đứa nhỏ nhà mẹ ngoan ngoan, ngày mai đường xa đại ca đi cùng, sương lạnh có áo bông, gió rét có tay ấm, à ơi…”

Muội nhắm mắt, thầm khắc từng lời ru vào trong ký ức. Ta thầm hẹn với đêm, ngày mai lên trấn Thanh Châu, hai chục lượng bạc muội và đại ca phải mang về đủ. Muội không sợ lão bán nến bên cạnh, không sợ khách khinh muội bé nhỏ, không sợ sương lạnh mười dặm. Muội chỉ sợ nếu mất, mẹ lại phải ngồi phịch xuống thềm gạch mẻ mà khóc như trẻ con.

Cha muội chưa từng cầm quá nửa lượng bạc một buổi, giờ đã cầm được hai lượng. Ngày mai muội sẽ đem về hai chục lượng. Kiếp này, muội muốn cha muội cầm được cả trăm lượng, cả nghìn lượng. Muội muốn cha muội đi chợ về không còn loạng choạng như say rượu vì bất ngờ, mà bước từng bước chắc nịch như một ông chủ hàng thực thụ.

Ngoài hiên, một cây nến trầm hương to muội đặt trên bàn thờ tổ tiên đang cháy trọn đêm không tắt, hương trầm ấm áp toả ra khắp gian nhà nghèo, phủ lên mái tranh dột nát một tấm khăn thơm mà chỉ ta và cánh bướm ngọc trong hộp gỗ mới nghe được lời khẽ khàng của nhau.

“Ngươi ơi, đợi ta, ngày mai chúng ta đi tiếp một chặng đường mới.”

Cánh bướm ngọc trong hộp khe khẽ ánh lên một tia sáng lam mờ, như đáp lại lời muội.