Muội Là Công Chúa Nhà Nghèo

Chương 7: Chợ Phiên Thanh Châu

Trời còn chưa sáng hẳn, con gà đầu ngõ mới cất tiếng gáy thứ ba, cha đã dậy nhóm bếp lá thổi ấm bình nước chè xanh. Mẹ dúi vào tay muội một củ khoai lang nướng còn nóng hôi hổi, khẽ dặn ăn đi cho ấm bụng, ra đường sương lạnh cắn răng thì lại khóc nhè cả buổi.

Muội cắn một miếng nhỏ, mật khoai chảy ra ngọt như đường phèn nấu tới lửa cuối. Ta trong lòng thầm cười một cái, kiếp trước ăn bánh trong hộp sắt cả tháng cũng không thấy ngon bằng củ khoai lem lọ nhọ của mẹ sáng nay.

Cha khoác lên vai cái áo bố cũ đã bạc màu ba mùa hè, cổ áo tưa chỉ, khuỷu tay có mụn vá vụng bằng chỉ trắng. Cha buộc gọn cái khăn nâu quanh eo, nhét vào đó một cái bao vải bên trong có nến trầm hương và cái kẹp bướm ngọc gói kín trong lá sen khô.

Đại ca đứng ở góc nhà, hai tay bưng bát cháo loãng, mắt cứ dán chặt lấy muội. Đại ca mười lăm tuổi cao lớn như tre non, giọng nói lại vụng về:

“Cha, hay để con đi thay, đường mười dặm đâu phải chuyện đùa, cha bị đau lưng cả tuần trước rồi.”

Cha lắc đầu, tay cha còn xoa xoa cái lưng đau kia:

“Con ở nhà cày nốt mảnh ruộng dưới bãi cho mẹ, việc chợ phiên để cha lo. Kiều Kiều nhi bé nhỏ như hạt gạo, một mình cha ẵm được cả buổi cũng chẳng nặng bằng gánh phân ra đồng.”

Nhị ca đứng bên bếp, tay còn cầm cái kẹp than, mặt trầm ngâm như đang nghĩ chuyện gì. Ta biết nhị ca lo, nhị ca lúc nào cũng lo, kể từ hôm muội đem hai món hàng ra bàn, nhị ca ngủ chẳng ngon giấc mấy đêm liền.

Tam ca thì khác. Tam ca mười bốn tuổi, mặt trắng, tay dài, tính tình lặng lẽ như giếng nước trong. Tam ca chạy ra từ buồng, tay cầm một cái túi vải xanh, bên trong lót bằng bông gòn dày, đưa cho cha:

“Cha, cha lót cái này vào bao vải nến, mất hương thì lỗ vốn. Tam đệ tối qua đọc sách thấy nói trầm ngậm sương thì mùi trôi mất, phải bọc kín.”

Cha nhận lấy, cười hiền:

“Tam đệ chu đáo, cha lo phần cha, con lo phần ba.”

Muội ngước nhìn tam ca, thấy trên búi tóc của tam ca có một cái kẹp gỗ nhỏ, khắc hoa văn cánh bướm. Kẹp gỗ ấy tam ca đeo từ hồi ba tuổi, chưa một ngày rời tay. Ta trong lòng nghĩ ngợi một chút rồi thôi, chuyện của tam ca để sau, hôm nay việc chính là đi chợ phiên bán hai món hàng cho ra bạc.

Trời còn tối, sương phủ trắng cả bờ tre trước ngõ. Cha bước ra sân, cúi thấp lưng cho muội trèo lên vai. Muội bám vào cổ cha, hai chân bé xíu ngoắc vào ngực cha như con mèo con bám cây. Áo bố của cha đã ngấm sương, lạnh mà không rét, có mùi hăng hắc của bếp lá và mùi bồ kết mẹ gội cho hôm qua.

“Cha ơi, cha đi cẩn thận, đường lát nữa sáng ra sẽ hay có bùn.”

Cha khẽ ừm một tiếng, tiếng ừm ấm áp như tiếng con trâu già gặm cỏ trưa nắng. Cha bước ra khỏi cổng, mẹ đứng bên hàng rào cầm cái đèn dầu ấm chờ tiễn. Ánh đèn dầu ấy trong sương sớm bằng đúng hai đốm hoa cải vàng, khiến ta ngoái đầu lại nhìn mãi.

Mười dặm từ thôn Đào Khê ra trấn Thanh Châu, ban ngày người ta gánh gánh đi mất một canh giờ. Cha cõng muội trên vai, giữ ý bước chậm cho muội khỏi nghiêng ngả, mỗi bước một sải dài đều đặn. Con đường lát đá cuội, hai bên là những vạt lúa non đang trổ đòng, sương đọng trên đầu bông lúa như mấy hạt cườm nhỏ.

Sương mù còn phủ ngang lưng cha, thấm ướt cả sau lưng áo bố. Muội đưa tay vò vò lớp vải bố ấy, thấy nó cứng và nhám như da bò già, chỉ có ở chỗ cổ áo bị mòn thì mềm mại. Ta trong lòng nghĩ, kiếp này nhất định phải may cho cha một cái áo mới, lớp trong bằng bông trắng, lớp ngoài bằng vải đũi màu chàm, cổ có lót nhung mềm cho không đau da.

“Kiều Kiều nhi, con ngồi chắc không?”

“Chắc lắm cha ơi, cha khỏe hơn con trâu Mực nhà bác Cả.”

Cha cười khùng khục, tiếng cười rung cả bờ vai. Cha khỏe thì có khỏe, nhưng lưng cha đau. Lưng cha đau vì mười mấy năm gánh phân, gánh mạ, gánh cả cái đói lên vai đưa về nhà. Ta biết, tay ta khẽ vỗ vào lưng cha một cái nhè nhẹ, như dỗ dành một con mèo lớn hiền lành.

Đi được một đoạn dài, sương tan bớt, mặt trời đỏ ối trồi lên sau rặng núi phía đông. Cha dừng lại ở gốc cây bàng già, đặt muội xuống, lấy trong khăn nâu một nắm cơm nếp mẹ gói cho:

“Kiều Kiều nhi ăn tạm miếng, sáng nay chưa no bụng lắm phải không con?”

“Cha ăn trước, con còn no khoai lang mà cha.”

Cha cười, cầm nắm cơm nếp bẻ đôi, chia cho muội một nửa. Nắm cơm bọc trong lá chuối còn ấm, gạo nếp trắng ngần điểm mấy hạt đậu đen. Muội cắn một miếng nhỏ, mẹ đã trộn cả chút muối mè, thơm bùi lăn khắp miệng. Ta nghĩ tới thời kiếp trước ngồi ăn cơm hộp lạnh trong xưởng, so với miếng cơm nếp lá chuối này thì kém cả trăm dặm.

Ăn xong, hai cha con lại lên đường. Lần này cha đổi bên, để muội ngồi vai kia cho đỡ nghiêng. Muội ngồi trên vai cao, nhìn xa thấy khói bếp bốc lên từ mấy ngôi làng ven đường, có tiếng gà gáy trưa và tiếng chó sủa vang lẫn nhau. Đường mới có người đi, phần lớn là đàn ông gánh bó củi, mấy bà bán rau đội thúng, rồi mấy đứa trẻ chăn trâu vắt vẻo trên lưng con trâu đen. Ai gặp cha con muội cũng chào một tiếng.

“Ông Trần đi chợ phiên đấy à?”

“Chào bà Tám, dạ tôi đưa con bé út đi chợ chơi.”

Cha nói ngắn gọn, không tiết lộ chuyện đem hàng đi bán. Ta biết cha khôn ngoan, không phải cha giấu gì, mà là chợ phiên Thanh Châu đông người, chưa bán được đồng nào mà rùm beng khắp thôn thì lỡ như hàng ế lại thành trò cười.

Đến giờ Thìn, cha con muội trông thấy cái cổng gạch cũ của trấn Thanh Châu. Cổng cao chừng ba trượng, hai bên tường gạch rêu phong, phía trên có tấm biển gỗ khắc ba chữ đại tự đã tróc sơn: Thanh Châu Trấn. Vừa qua cổng đã nghe tiếng ồn ào như ong vỡ tổ, đủ tiếng người rao hàng, tiếng gà kêu vịt cạc, tiếng heo bị buộc bằng dây thừng ré lên khe khé.

“Trời ơi cha, đông thế này, con lúc đầu tưởng chợ nhỏ như chợ chồm hổm ở Đào Khê.”

“Chợ phiên mùng năm là chợ lớn nhất tháng, hôm nay là chợ đôi, người mấy huyện đổ về đây, không đông mới lạ đấy con.”

Cha đặt muội xuống, dắt tay muội len giữa đám người. Muội bé, lọt thỏm giữa rừng chân người lớn, chỉ thấy vạt áo nâu, vạt áo xanh, tấm quần lá tọa. Cha giữ tay muội chặt như giữ một hạt trân châu quý, sợ trôi giữa dòng người.

Cha đi tìm chỗ ngồi. Ở chợ phiên Thanh Châu, khu trung tâm là các sạp lớn của thương lái chuyên bán vải, muối, chè và đồ sứ. Khu bên tả là hàng cá tươi, hàng rau, hàng thịt heo. Khu bên hữu là hàng đồ khô, hàng chè xanh và hàng nến hương. Cha lựa một khoảng đất trống bên hàng nến, sát cây gạo già, trải cái khăn nâu vuông vắn xuống.

Muội mở bao vải, lấy nến trầm hương đặt giữa khăn, kẹp bướm ngọc đặt bên phải. Cây nến trầm cao ba tấc, thân sáp trắng ngà, khắc hoa văn hoa lê rất tinh xảo, phần đầu bấc để trần bằng sợi bông ta se tay. Cái kẹp bướm ngọc thì lấp lánh dưới nắng mai, hai cánh xanh biếc như cánh bướm cải vườn nhà, mặt sau khảm chỉ bạc như mấy hạt sương đọng.

Đặt xong, cha ngồi xổm bên khăn, muội đứng bên cha. Ta thầm nghĩ trong lòng, kiếp trước làm nghề mỹ nghệ bao nhiêu năm, gặp bao nhiêu triển lãm chưa từng nghẹt thở, thế mà hôm nay đứng bán ngoài chợ lại thấy tim đập như trống làng đêm hội.

Cha khẽ hắng giọng, nói với muội:

“Kiều Kiều nhi rao đi, con là chủ hàng, con nói thì khách mới tin. Cha ngồi bên hộ tống, không dám giành mất tiếng của con đâu.”

Muội gật đầu, hít một hơi sâu, giọng lí nhí:

“Nến trầm hương, kẹp bướm ngọc, ai mua không ạ, cây nến đốt cả canh giờ chưa tan, hương ngọt như đường phèn, quý cô nương ai mua kẹp về cài tóc đón xuân không ạ.”

Giọng muội nhỏ, nhỏ như tiếng chim sẻ hót trên cành cây khô. Người ta đi ngang, có kẻ liếc mắt qua, có kẻ dừng lại một chút, thấy đứa bé sáu tuổi ngồi bán mấy món đồ lạ, rồi lại đi. Có bà cụ tò mò, cúi xuống ngửi cây nến, ngửi xong khẽ nhíu mày:

“Nến gì mà thơm thế, có phải trầm thật không con, kẻo cha con lừa bà, một trượng vải bà mua còn hai xâu tiền, cây nến này bao nhiêu?”

Muội chưa kịp trả lời, có bà khác nói xen vào:

“Con nít bảy vía chưa vững, biết trầm thật giả thế nào, chắc là sáp đèn nhuộm mùi, đi thôi bà chị.”

Bà cụ nhíu mày ngẫm nghĩ một chút rồi cũng bỏ đi. Cha ngồi bên, tay siết chặt hai vai muội, không nói gì, chỉ khẽ vỗ một cái an ủi. Ta cảm nhận được lòng bàn tay cha chai sạn nhưng ấm nóng, cái vỗ ấy như một tấm chăn bông đặt trên ngực đứa nhỏ.

Nắng lên cao dần, bóng cây gạo di chuyển được một sải. Người qua kẻ lại đông thêm mà chưa ai mua. Bên cạnh, sạp nến của lão bán sáp huyện Trấn đã bán được ba bốn cây nến to, ông ta liếc sang cha con muội, hừ một tiếng khinh khỉnh:

“Con bé con đi chợ chơi hả, sáng nay đông thế mà chưa bán được cái nào, hay đưa đây ta trả cho hai xâu tiền, đem về nhà nấu cháo cho ấm bụng.”

Cha cười xoà, không đáp. Muội cũng cười, mặt nghiêng nghiêng như đóa hoa lê nở dở, không nao núng chút nào. Ta biết trong bụng ta, lão này nói vậy chỉ vì sợ nến của lão bị so đo với nến của muội. Nến sáp thường của lão đốt nửa canh giờ đã hết mùi, nến trầm hương của muội đốt một canh giờ mà hương còn quyến luyến trên vạt áo, hai loại hàng khác biệt như đường phèn với muối trắng.

Cha lặng lẽ đưa cho muội một bát nước chè xanh, dặn uống cho đỡ khát. Muội uống một ngụm, nước chè ngòn ngọt chát chát, cha hồi sáng đã đun sẵn ở nhà, bỏ vào ống tre cho khỏi nguội. Ta nghĩ thời gian còn dài, chợ phiên bán từ giờ Thìn đến giờ Mùi, chưa đến giờ Tị đã hoảng làm gì.

Đúng lúc ấy, có tiếng bước chân sột soạt của gấm lụa. Muội ngước lên nhìn, thấy một bà phu nhân trung niên đi qua, mặc áo gấm màu chàm nhạt viền chỉ vàng, tay cầm quạt lụa, có hai con hầu nhỏ đi hai bên. Phu nhân này chừng bốn mươi tuổi, da trắng như tuyết, khoé mắt có mấy nếp nhăn hiền lành, thoạt trông đã biết là con nhà tử tế đường xa đến trấn.

Bà đi ngang qua sạp muội, chợt khựng lại, khẽ hít mũi một cái. Con hầu bên trái hỏi nhỏ:

“Phu nhân, có chuyện gì ạ?”

“Ta ngửi thấy một mùi hương lạ, không phải trầm quen thuộc, hình như ở đâu đây…”

Bà phu nhân đảo mắt tìm, ánh mắt dừng lại trên cây nến trầm hương của muội. Bà bước tới, cúi xuống. Muội đứng thẳng, khoanh tay chào lễ theo cách mẹ dạy:

“Chào phu nhân, phu nhân mua giúp cây nến trầm hương của muội với ạ, nến này thắp trong phòng khách, hương trầm thơm dịu, có thể tĩnh tâm đọc sách, có thể dâng lên bàn thờ tổ, thắp một canh giờ mà hương còn ngân lại cả buổi.”

Phu nhân nghiêng đầu, cầm cây nến lên, đưa ngang mũi, hít một cái thật khẽ. Rồi bà nhắm mắt, hít cái thứ hai sâu hơn. Nét mặt bà biến đổi, từ tò mò sang ngạc nhiên, rồi ngạc nhiên chuyển sang trân trọng. Bà mở mắt, nhìn muội một cách lạ lùng:

“Con bé, nến này ai làm cho con vậy?”

“Dạ, muội làm ạ, muội học theo ông bà tổ tiên để lại, làm mấy cây nến hầu bàn thờ, hôm nay đem thử một cây ra chợ.”

Phu nhân im lặng, lại đưa nến lên ngửi lần nữa. Bà quay sang con hầu bên phải:

“Con nhớ hôm giỗ ông cụ nhà ta, ta đã đốt cây trầm tiến vua giá năm lượng bạc chứ?”

“Dạ nhớ, phu nhân bảo trầm ấy đốt xong mùi tan nhanh, hơi tanh.”

“Cây nến này hương còn quý hơn cây trầm ấy, đốt xong nhất định không tanh, có ngọt như đường phèn, có dịu như sương sớm, có ấm như đèn dầu đêm đông. Ai làm được thứ nến này quả là kỳ tài.”

Cha nghe vậy giật mình, vội đứng lên khoanh tay:

“Dạ bẩm phu nhân, con bé nhà tôi chơi đùa thôi, phu nhân đừng khen quá lời, kẻo con bé phổng mũi lại quên gạo trong lu.”

Phu nhân cười, tiếng cười thanh nhã:

“Ông là cha con bé phải không, ông có phúc lớn. Cây nến này bao nhiêu, ta lấy.”

Muội chưa kịp mở miệng thì cha đã đỡ lời:

“Dạ, con bé bảo là ba xâu tiền một cây.”

Phu nhân xua tay:

“Ba xâu tiền là bán rẻ, ta không nỡ. Con bé, phu nhân trả nửa lượng bạc lấy cây nến này, coi như đền công chế tác của con, con có bằng lòng không?”

Cha há hốc mồm, tay run bần bật. Nửa lượng bạc bằng năm trăm đồng, bằng mười xâu tiền, bằng cả gánh lúa gánh trên vai hai vụ mùa gộp lại. Ta trong lòng cũng chấn động, nhưng ngoài mặt vẫn bình tĩnh, khẽ vái phu nhân một cái:

“Muội cảm ơn phu nhân, phu nhân đã biết trầm quý, muội xin gửi phu nhân cây nến, chúc phu nhân thắp nến bình an cả nhà.”

Phu nhân cười, mở túi lụa lấy ra một cục bạc trắng ngần bằng hạt cau, đưa cho cha. Cha đón nhận bằng cả hai tay, cả hai tay run như đang cầm quả trứng gà nóng. Phu nhân dặn:

“Ông à, tuần sau chợ phiên nếu con bé có nến, mang thêm cho ta ba cây, ta chờ ở sạp Vân Cẩm Trang bên phố đông. Nhà ta giỗ cụ ngoại cần đủ nến.”

Cha vâng dạ rối rít. Phu nhân xoa đầu muội một cái, cái xoa dịu dàng như tay bà nội xoa đầu cháu, rồi mới xoay người bước đi. Con hầu nhỏ nhấc chân theo, không quên liếc lại nhìn muội với ánh mắt tò mò.

Cha ngồi thụp xuống bên khăn, hai tay ôm cục bạc, tim đập thình thịch. Ta nhìn cha, khẽ mỉm cười, nói nhỏ:

“Cha ơi, chưa xong đâu, còn cái kẹp bướm ngọc nữa. Cha bình tĩnh, đừng làm khách thấy mình vui quá kẻo họ tưởng mình lừa họ.”

Cha cắn răng gật đầu, giấu cục bạc vào trong khăn nâu buộc chặt vào lưng. Cha nắm tay muội một cái, tay cha còn ấm hơn ban sáng.

Vừa lúc đó, một tốp ba thiếu nữ dập dìu đi qua. Cả ba mặc áo màu hồng, xanh, tím, trên tay ai cũng có chiếc dù giấy vẽ hoa. Cô mặc áo hồng đi đầu, có gương mặt trái xoan, mũi thẳng, môi hồng như cánh hoa đào. Cô này chừng mười sáu tuổi, dáng vẻ đài các, đi qua sạp muội thì mắt chợt sáng lên khi nhìn thấy cái kẹp bướm ngọc.

“Ối chao, cái kẹp này đẹp quá.”

Cô ngồi thụp xuống, tay chưa dám chạm vào, chỉ ngắm say sưa. Hai cô bạn ngồi bên cũng ồ lên khe khẽ. Cô áo hồng ngước lên nhìn muội, ánh mắt trong veo như hồ Sen mùa hạ:

“Em gái, kẹp bướm này em bán bao nhiêu tiền vậy?”

Muội chớp mắt, giọng lí nhí đúng chất trẻ con:

“Chị ơi, kẹp này muội làm bằng ngọc bích thật, tam ca muội mài từng lớp ngọc mỏng như cánh bướm, khảm chỉ bạc bằng tay, cả nửa tháng mới xong. Chị thử đeo lên tóc xem có hợp không, không hợp thì thôi ạ.”

Cô áo hồng cầm kẹp lên, đưa ngang mái tóc đen tuyền. Cánh bướm ngọc xanh biếc ăn nhập với suối tóc như một cánh bướm cải thật đậu trên nhành trúc. Cô bạn áo tím trầm trồ:

“Chị Ngọc Nhi, hợp lắm, đẹp như tranh vẽ trong sách Nhân Sinh Thảo.”

Chị Ngọc Nhi cắm thử kẹp lên búi tóc, lấy gương đồng nhỏ ra soi, khoé miệng cong lên vui vẻ:

“Em gái, kẹp này đúng là quý. Chị hỏi thật, giá bao nhiêu, chị không mặc cả với em đâu.”

Muội nhìn cha một cái, cha cũng đang nhìn muội. Ta biết mình phải nói giá cao, không phải để tham, mà là để cha có tiền lợp lại mái ngói cho ba huynh khỏi phải ngủ chỗ đầu dột giữa mùa mưa tháng bảy. Muội hít một hơi, giọng vẫn ngọt như trẻ con:

“Chị ơi, một lượng bạc thôi, muội bán rẻ cho chị, vì chị thích thật, muội tặng thêm cái hộp gỗ nhỏ để cất kẹp.”

Cha nghe muội nói một lượng bạc mà suýt nghẹn nước bọt. Cô áo hồng thì tủm tỉm cười:

“Em nhỏ mà biết nói chuyện làm ăn quá. Được, chị trả một lượng, mai chợ phiên chị nhờ em mang thêm cho chị hai cái nữa, chị tặng hai em con nhà cô ruột. Được không em?”

“Dạ được ạ, muội xin hẹn với chị tuần sau.”

Cô áo hồng mở túi lụa hồng lấy một cục bạc, đặt vào tay muội. Cục bạc lạnh mát và nặng trong lòng bàn tay nhỏ. Muội cẩn thận đưa cho cha, cha đón bằng cả hai tay, lại nhét vào khăn nâu buộc chặt vào lưng. Cô áo hồng đứng dậy, mỉm cười, dặn muội một câu:

“Em nhỏ, em có duyên với chị đấy, tuần sau đúng giờ nhé.”

Cả ba cô áo hồng áo xanh áo tím ríu rít đi khuất trong dòng người. Chiếc kẹp bướm ngọc đã đi cùng chị Ngọc Nhi, để lại trên tấm khăn nâu một khoảng trống, khoảng trống ấy giờ đây tràn ngập ánh nắng ban mai và một mùi thơm thoang thoảng của gấm lụa.

Lão bán nến bên cạnh sững sờ, mồm há chữ O. Cha thu dọn khăn, gấp cẩn thận, tay cha vẫn còn run. Ta nghĩ giờ Ngọ mới bắt đầu, mà cha con muội đã bán được cả hai món hàng, thu về hai lượng bạc gọn ơ. Chợ phiên hôm nay, coi như chuyến đầu đã thắng lớn.

Cha xốc muội lên vai, nói khẽ:

“Kiều Kiều nhi, mình về nhà thôi con, cha không dám ở lại thêm chút nào, hai lượng bạc mà rơi mất thì cha đâm đầu xuống giếng cha cũng không có mặt về gặp mẹ được.”

Muội bật cười khanh khách, cười ngặt nghẽo đến chảy cả nước mắt:

“Cha, cha buộc chặt thế rồi thì rơi làm sao được, cha đừng lo, cha mang muội về nhà cho mẹ khoe với.”

Đường về mười dặm, cha đi mà hai chân đi loạng choạng như say rượu. Nắng đã lên gay gắt trên đầu, nhưng cha chẳng thấy nóng, cha chỉ thấy hai bàn tay mình còn nắm chặt cục bạc trong khăn nâu, cứ như thể chỉ cần lỏng tay một cái, cục bạc sẽ bay mất như cánh bướm cải.

Đi qua chỗ gốc bàng già cha con nghỉ chân lúc sáng, cha đặt muội xuống, ngồi phịch dưới gốc cây, mở khăn nâu ra xem hai cục bạc. Hai cục bạc nằm gọn giữa lòng khăn nâu, một cục nhỏ bằng hạt cau, một cục to bằng ngón tay cái, đều trắng ngần dưới nắng.

Cha đưa cả hai cục bạc lên nhìn, nước mắt cha bỗng chảy xuống hai gò má rám nắng. Ta ngỡ ngàng, chưa từng thấy cha khóc. Cha là một người đàn ông cả đời không rơi nước mắt, không kêu khổ, không than đau lưng, không than đêm mưa dột nát. Vậy mà bây giờ, cầm hai cục bạc trên tay, cha khóc.

Cha khóc, nhưng miệng cha cười, cái cười run rẩy như cánh hoa lê rung trước gió. Cha vừa cười vừa khóc, giọng nghẹn ngào:

“Kiều Kiều nhi, có phải muội là tiên nữ giáng phàm không con. Cha đi nương cả đời chưa từng cầm quá nửa lượng bạc trong một buổi sớm, chưa từng, chưa từng. Hai lượng bạc, hai lượng bạc con ơi, đủ lợp lại ba gian nhà, đủ mua áo bông cho ba huynh, đủ cho mẹ mua cái thùng gạo mới thay cái lu vỡ ngoài chái…”

Cha nắm tay muội, tay cha run run, bàn tay chai sạn xưa nay chỉ biết cầm cày cầm cuốc, giờ đây run rẩy như đứa trẻ lần đầu cầm bút. Cha nắm tay muội, hai chân đi loạng choạng như say rượu, khoé miệng vẫn nở nụ cười run rẩy giữa dòng nước mắt.

“Kiều Kiều nhi, có phải muội là tiên nữ giáng phàm không, cha đi nương cả đời chưa từng cầm quá nửa lượng bạc trong một buổi sớm…”

Cha đâu hay, cách đó không xa, dưới bóng gốc bàng già, một gã tá điền của nhà họ Vương đứng nghỉ chân từ lúc nào, mắt gã dán chặt vào hai cục bạc trắng ngần trong lòng bàn tay cha, rồi lẳng lặng quay gót rảo bước về hướng phủ Vương gia.