Muội Là Công Chúa Nhà Nghèo

Chương 6: Bướm Ngọc Nhỏ Xíu

Ngày thứ tư sau khi muội tỉnh dậy trong thân xác nhỏ xíu này, trời mới tờ mờ sương đã kéo màng trắng phủ mái hiên tranh.

Muội ngồi bó gối bên bậu cửa, cái hộp gỗ khảm trai cha đóng cho muội đặt trên đầu gối, tay vén nắp khe khẽ như sợ đánh thức con mèo con đang cuộn tròn bên rương thóc.

Trong hộp, giữa lớp lụa xanh úa đã bạc màu vì năm tháng, nửa cái kẹp tóc bướm ngọc nằm im lặng, cánh trái mỏng như sương sớm còn dính chút vệt nắng vàng của kiếp trước. Muội đưa ngón tay bé xíu chạm nhẹ vào cánh bướm ngọc, mát rượi, mà lòng ta lại ấm.

“Ngươi ơi,” muội thầm nói trong lòng, “hôm nay ta thử tạo một bạn đồng hành cho ngươi, được chăng?”

Cánh bướm nhỏ dường như run lên đáp lời, ánh xanh phản chiếu vào mắt muội một chớp rất khẽ.

Muội đặt hộp gỗ lại chỗ cũ, đi thật nhẹ ra sau vườn, nơi con suối cạn chảy qua khe đá cuội. Sáng qua muội đã lặn lội dò tay khắp đáy suối, nhặt được một nắm ngọc lam vụn cỡ hạt đậu, viên nào cũng thô ráp, chưa được gọt giũa, giống hệt lòng người chưa qua khổ nạn.

Muội mỉm cười với chính mình. Cả kiếp trước, ngành mỹ nghệ đại học của ta đã dạy ta cách nhìn viên đá lấm bùn mà thấy được cánh bướm bên trong. Kiếp này, ta sẽ dùng đôi tay bé xíu sáu tuổi này đánh thức nó.

Bên bờ suối, muội ngồi xổm, xếp ngọc lam vụn ra tấm khăn vá ba miếng mẹ khâu cho muội hôm trước. Sương sớm còn đọng lấp lánh trên đầu cỏ tranh, gió lạnh len qua lớp áo bố cũ, muội run một cái rồi lại nghiến răng. Ta không lạnh đâu. Ta có cả một bếp lửa nhỏ trong lòng, cháy suốt từ đêm cha cầm cây nến trầm hương đến giờ.

Dụng cụ chỉ có dao tre cha vót cho muội để chặt cỏ heo, và cái bát sành đựng cát mịn muội tự sàng từ chỗ tro bếp nguội. Kiếp trước ta từng thí nghiệm bằng máy khắc điện, kiếp này ta phải quay về nguyên thuỷ nhất, dao tre và cát, giống như thợ đá cổ xưa vẫn làm.

Muội chọn viên ngọc lam đẹp nhất, to bằng nửa hạt hồng đậu, ánh xanh như mặt nước ban sớm khi gió chưa gợn. Muội nắm chặt trong lòng bàn tay, thầm khấn: “Ngọc ơi, đừng vỡ nhé. Nhà ta còn nợ một mái ngói cho cha, còn nợ một tấm chăn bông cho mẹ.”

Bí quyết là kiên nhẫn. Ta chấm dao tre vào cát mịn, dùng đầu dao chà đi chà lại một hướng, ngọc mới không sứt mà từ từ mòn theo ý mình. Kỹ thuật này ta học từ ông thầy già dạy nghề chạm ngọc Tô Châu, một người kiếp trước ta chỉ kịp gặp hai buổi trước khi ông về hưu. Ông nói: “Ngọc là thứ có hồn, tay run một cái là nó giận cả đời.”

Muội mài đường viền trước, tạo hình bốn cánh bướm nhỏ đối xứng, mỗi cánh cong lên như đang đón gió xuân. Từng lát cát mịn cạ vào ngọc, phát ra tiếng “sạt sạt sạt” đều đặn như tiếng chăn bông chà lên nhau đêm đông. Muội chuyên chú đến mức không hay trời đã sáng hẳn, gà nhà bà Ba bên kia rào đã cất tiếng gáy hai lượt.

Cả một sáng mùa xuân, muội ngồi bên suối, tóc vướng vào mấy sợi cỏ non, mũi hồng vì lạnh, mà tay không rời khỏi viên ngọc.

Nhị ca ra vườn hái rau lang, thấy muội cắm cúi bên bờ suối, tay đen thui vì cát bết, mà mắt sáng như hai giọt sương đọng dưới đáy hoa lê.

“Muội muội, làm gì mà chăm chú thế?” Nhị ca cười, cởi áo choàng ngoài đắp vội lên vai muội. “Sương này lạnh, còn ướt cả lưng con.”

Muội ngẩng lên, hai má đỏ hồng vì rét: “Nhị ca xem đi, sắp thành rồi.”

Nhị ca cúi xuống, nheo mắt nhìn viên ngọc trên tay muội, ngơ ngác cả buổi mới thốt được nửa câu: “Cái này… là muội tự làm sao? Ngọc ở đâu ra?”

“Nhặt ở suối cạn thôi, nhị ca. Muội chỉ mài lại.”

Nhị ca thở dài, giơ tay xoa đầu muội, ngón tay chai sạn vướng vào tóc muội chỗ búi tó nhỏ: “Muội muội nhà mình khéo tay quá. Cha còn tiếc chưa dạy được nghề gì cho nó. Nhưng nhìn muội mài thế này, nhị ca thấy trời sinh muội đã có tay khéo rồi.”

“Nhị ca lo gì,” muội cười tít mắt, “muội có tay, có mắt, có ba huynh cưng, còn thiếu gì đâu.”

Nhị ca cười khẽ, đôi mắt hiền như đèn dầu ấm hắt trong đêm mưa, rồi bảo muội mài xong nhớ vào bếp uống bát nước gừng nóng mẹ vừa sắc.

Muội quay lại với viên ngọc, lòng dâng lên một thứ dịu ngọt tựa như đường phèn ngậm trong má.

Đến trưa, khi mẹ ra sân gọi cơm, muội đã mài xong bốn cánh bướm. Mỗi cánh to chỉ bằng móng tay út, mỏng như cánh hoa lê mùa xuân, viền cong nhè nhẹ vướng ánh nắng. Ánh mặt trời chiếu xiên qua, viên ngọc lam đã chuyển từ mảnh vụn thô ráp sang một khối trong suốt, uống trọn ánh sáng vào lòng.

Muội đặt bốn cánh lên khăn, ngồi ngắm nghía một lúc, mà lòng dâng lên thứ dịu ngọt khó tả. Trong không gian tâm linh gia truyền của muội, trên cái kệ gỗ đào nhỏ, nửa cánh bướm ngọc cũ của mẹ Trấn phủ dường như cũng đang thở nhẹ, đồng cảm với đứa em nhỏ vừa mới sinh ra.

Buổi chiều muội mượn của cha cái kim khâu áo, cắm vào một mẩu tre nhỏ làm que khắc, rồi tỉ mẩn chuốt gân trên mỗi cánh. Ba đường gân đối xứng, mỏng như sợi tơ nhện muội thấy sáng nay giăng trong bụi tre bên hàng rào.

Gân khắc xong, muội dùng dao tre chuốt phần thân bướm, chọn viên ngọc nhỏ hơn, mài thành hình giọt nước dài. Thân nối với cánh bằng một sợi dây bạc mảnh muội gỡ ra từ cái vòng cổ cũ mẹ đưa cho muội gói ở đáy hộp, bảo “để dành khi nào bán được thì đổi lấy gạo”.

Mẹ ơi, con không đổi bạc lấy gạo. Con đổi bạc lấy đôi cánh cho gia đình mình.

Muội xoắn dây bạc quanh thân bướm, uốn thật tinh vi, làm hai sợi râu bướm cong lên duyên dáng như đang cười. Cuối cùng muội gắn tất cả lên một cái trâm gỗ đào cha đã bào nhẵn cho muội hôm đầu tuần, phần đầu trâm chạm hoa văn mây cong, phần chuôi trơn tru vừa tay bé.

Xong xuôi.

Muội đặt kẹp tóc bướm trên lòng bàn tay, đưa ra ngoài hiên, để nắng chiều rọi thẳng.

Bốn cánh ngọc lam xanh ăn ánh nắng, hắt ra bảy sắc lấp lánh, in xuống nền đất một vệt sáng lung linh. Con bướm nhỏ xíu, mà như sắp cất cánh bay thẳng vào mùa xuân đầu tiên của kiếp này. Muội thở ra một hơi, tim đập rộn ràng. Đây rồi. Đây chính là sản phẩm đầu tiên của ta ở kiếp này.

Kẹp tóc bướm đính pha lê ngọc trai · phong cách cổ trang

Kẹp tóc bướm đính pha lê ngọc trai · phong cách cổ trang

41.000đ

Xem chi tiết →

Tam ca ở trong nhà đang học chữ, ngẩng đầu lên đúng lúc muội đi vào, thấy cái kẹp tóc trên tay muội, quyển sách cầm trên tay tam ca rơi cái “cạch” xuống bàn.

“Muội… đâu ra thứ đẹp thế này?”

Tam ca đứng bật dậy, đi vòng qua bàn, quỳ một gối trước mặt muội, cẩn thận đến mức không dám thở mạnh, giơ hai tay đón lấy cái kẹp. Ánh mắt tam ca sáng lên như bóng trăng qua giếng, giống hệt ánh mắt cha đêm hôm cây nến trầm hương cháy trọn đêm không tắt.

Muội nhìn tam ca. Trong lòng ta chợt dâng lên một cảm giác lạ. Hai đứa cùng cầm hai nửa cánh bướm ngọc, mà không đứa nào biết. Song điệp. Số phận đã kết chỉ hồng từ mười bốn năm trước, ta chỉ mới thấy được một sợi mảnh trong nghìn sợi rối.

“Muội tự làm,” muội đáp, giọng nhỏ vì hồi hộp, “trâm gỗ là đại ca cưa cho muội, còn ngọc là muội nhặt ở suối cạn.”

Tam ca cầm cái kẹp bằng đầu ngón tay, xoay từng góc, ngắm nghía cánh bướm mỏng như sương, rồi cứ ngồi im lặng một lúc lâu. Muội đứng bên cạnh, nghe được cả nhịp tim của huynh gõ hơi loạn nhịp trong lồng ngực trẻ.

Rồi tam ca thở ra một hơi, giọng khàn khàn: “Muội muội, cái này bán được không?”

Muội nghiêng đầu: “Tam ca thấy có bán được không?”

“Ta thấy,” tam ca cười khẽ, nụ cười lần đầu tiên muội thấy nở trên gương mặt vốn trầm mặc của huynh từ khi muội xuyên đến, “nếu đưa lên phiên chợ Thanh Châu ngày mai, chỉ cần bà chủ tiệm trang sức Chu gia thoáng thấy, bạc trăm cũng không hiếm.”

“Bạc trăm?” muội tròn mắt, mà trong lòng thầm cười. Ta biết chứ, cái kẹp bướm nhỏ này ở kiếp trước cũng phải đấu giá hàng triệu. Nhưng ta chỉ cần vài chục lượng thôi, đủ đổi cho cha đôi giày mới, đổi cho mẹ tấm chăn bông mới, đổi cho ba huynh mỗi người một áo lành.

Tam ca đặt kẹp vào lòng bàn tay muội, gấp ngón tay nhỏ xíu ấy lại giữ chặt: “Muội muội, muội đúng là báu vật trời cho nhà họ Trần chúng ta. Đêm nay ta nói với cha, mai cả nhà mình lên chợ Thanh Châu.”

Đại ca về đến nhà thì trời đã sập tối. Sương xuống dày như tấm chăn mỏng phủ ngoài sân, đại ca vác trên vai bó củi to gấp đôi thân hình, tóc mai ướt nhèm, gò má tái xanh vì rét.

“Muội muội đâu?” Đại ca vừa buông bó củi vừa gọi, giọng khản đặc vì cả ngày kéo cưa.

Muội chạy ra, ôm chầm lấy cái ống chân dính bùn của huynh: “Đại ca, muội đây.”

Đại ca cởi áo tơi ngoài, phủi bụi vào chậu nước rửa mặt, rồi đến bên bếp ngồi hơ tay. Tam ca bưng ra chén cháo nóng, còn muội thì rón rén đặt cái kẹp bướm lên đầu gối đại ca.

“Đại ca xem, muội làm cả buổi hôm nay.”

Đại ca cúi xuống nhìn. Bàn tay huynh to bè, lòng đầy chai sạn vì kéo cưa vác củi, vậy mà lúc chạm vào cánh bướm ngọc lại nhẹ nhàng như đang chạm vào cánh chuồn chuồn đầu hạ.

“Trời đất…” đại ca thốt lên, cả cái thìa cháo trên tay quên bỏ vào miệng, “muội muội của ta khéo tay đến vậy sao? Cái này… không lẽ mua ở tiệm trang sức về?”

“Chính tay muội mài đấy,” tam ca đáp thay, giọng đầy tự hào, “muội ngồi suốt cả buổi bên suối cạn, mài đến khi tay đen thui cũng không nghỉ.”

Đại ca đặt kẹp lên bàn, đứng bật dậy, đi ra chậu nước rửa lại đôi tay lần nữa. Muội thấy huynh chà tay đến đỏ ửng, rồi mới quay lại, nhặt cái kẹp lên bằng hai ngón tay run run.

“Muội muội,” đại ca nói, giọng đứt quãng, “đại ca… đại ca chưa bao giờ mua nổi một thứ đẹp thế này cho muội. Vậy mà giờ muội tự làm được. Đại ca…”

“Đại ca đừng vậy,” muội bảo, kiễng chân giật giật ống tay áo huynh, “muội có ba huynh cưng, muội đâu cần ai mua nữa. Muội chỉ mong cái kẹp này bán được, đủ cho đại ca mua đôi giày cỏ mới. Đôi giày cũ rách hết ngón cái rồi, muội thấy huynh đi tập tễnh cả tuần.”

Đại ca nghe xong, cúi đầu thật thấp, huynh không nói gì thêm. Muội thấy vai đại ca run một cái, rồi thôi. Bếp lửa liu riu hắt bóng huynh lên vách đất, cái bóng to bè mà lại như đang co lại, giấu vào trong lòng một điều gì rất đau.

Bữa tối hôm ấy nhà có cháo trắng và một đĩa rau lang luộc chấm nước mắm loãng. Mẹ nấu thêm chén canh gừng, chia cho mỗi người một ngụm, bảo là để trừ hàn.

Cha ngồi đầu bàn, tay cầm chén cháo, mắt cứ nhìn cái kẹp bướm trên bàn, ánh mắt như đèn dầu ấm, ấm đến mức muội thấy cả trái tim đóng băng kiếp trước của ta cũng đang tan dần từng lớp mỏng.

“Kiều Kiều,” cha khẽ gọi, “ngày mai đi chợ Thanh Châu, con có sợ đường xa không?”

Nhị ca đang húp cháo, ngẩng đầu: “Cha, để con đưa muội đi. Con đi hai lần rồi, quen đường lắm.”

“Đường mười dặm,” cha thở dài, đặt chén cháo xuống, “sương sớm lạnh, còn hai con dốc phải leo qua. Muội chân bé, đi có nổi không?”

“Muội cõng được,” nhị ca đáp không do dự, “sáng sớm sương chưa tan con cõng, đến giữa đường trời ấm rồi mới cho muội đi bộ.”

Tam ca cũng lên tiếng: “Con đi cùng. Vào chợ có tam huynh nói giá, không sợ bị ép.”

Đại ca gật đầu: “Con phải ở nhà giữ củi, sáng sớm còn phải giao cho tiệm dầu bà Sáu. Nhưng có nhị đệ tam đệ đi cùng muội, con yên tâm.”

Cha vẫn do dự, đũa gõ nhẹ vào cạnh chén. Muội hiểu. Cha lo không phải đường xa, mà lo phiên chợ đông người, sợ có kẻ xấu bụng nhìn thấy cái kẹp bướm rồi rắp tâm cướp giật. Trong lòng cha, muội bây giờ vẫn là con cá con nhỏ xíu lọt tay ai cũng có thể bắt.

Muội đặt chén cháo xuống, đứng lên đi vòng qua bàn, đến chỗ cha ngồi. Muội nhón chân, vòng tay ôm cổ cha, tựa đầu vào cái quai xanh gồ ghề của cha vì gánh nặng nhiều năm.

“Cha ơi,” muội thì thầm, “muội mang theo cái kẹp bướm trong túi ngực, không ai cướp được đâu. Muội có nhị ca tam ca kèm hai bên. Cha yên tâm nhé.”

Cha đưa tay ra sau, ôm lấy lưng muội, cái tay chai chà vào vai muội hơi đau, nhưng ấm đến độ muội chẳng muốn rời ra.

“Ừ,” cha thở dài, “cha yên tâm. Ngày mai cha đưa các con ra đầu ngõ, gọi bác Tư đánh xe bò cho các con đi cùng nửa đường. Nửa còn lại các con đi bộ cũng đỡ hơn.”

Nhị ca cười tít mắt: “Bác Tư mà đi thì tuyệt rồi. Bác thương muội lắm, thế nào cũng cho muội ngồi trên đống rơm ấm.”

Muội gật đầu, lòng thầm nghĩ: người thương muội trong thôn Đào Khê này đếm không hết, chỉ trừ mấy nhà giàu như Vương Thái Đường vẫn nhìn cha xuống ánh mắt. Nhưng ta không sợ. Ta có cả một nhà cùng đứng bên ta.

Ăn xong, mẹ thu bát, muội chạy vào bếp xin phụ. Mẹ ngồi bên bếp rửa bát bằng nước tro, muội ngồi bên cạnh, gấp lá cỏ khô làm cái hộp nhỏ đựng kẹp bướm cho mai đi chợ. Muội gấp cẩn thận, lót thêm một lớp lụa xanh mượt mượt vừa xé ra từ mảnh vụn mẹ để dành khâu vá.

Bếp lửa liu riu, ánh vàng lay lay trên má mẹ, muội bỗng thấy mẹ đẹp lạ lùng. Mẹ đã già trước tuổi vì cực nhọc, tóc chỗ tai đã lấm chấm bạc, nhưng ánh mắt vẫn dịu như nước suối tháng ba.

Kiếp trước, ta lớn lên trong cô nhi viện, chưa bao giờ được ngồi bên bếp lửa nhìn một người phụ nữ nào mà lòng dâng lên chữ “mẹ”. Kiếp này, chỉ mới bốn ngày, ta đã học được cách gọi “mẹ ơi” trơn tru, dễ đến mức chính ta cũng ngạc nhiên.

“Muội muội,” mẹ khẽ gọi, đưa tay lau vào tạp dề, rồi vươn tay nắm lấy bàn tay nhỏ xíu của muội. Bàn tay muội dính vệt cát khắc ngọc, ngón cái còn xước nhẹ vì lỡ tay hồi trưa. Mẹ xoa xoa nhẹ vết xước, rồi đưa bàn tay muội lên gò má chai sạn của bà, áp vào đó thật lâu.

Muội thấy má mẹ ấm. Ấm hơn cả nắng chiều rọi qua bậu cửa. Ấm đến mức muội quên mình đang ở kiếp nào, quên hai mươi lăm năm cô độc kia đã từng có thật, chỉ còn nhớ mình đang là một đứa bé sáu tuổi được mẹ nắm tay bên bếp lửa.

Mẹ nhìn muội thật lâu, ánh mắt vừa dịu vừa lo. Rồi mẹ khẽ cất tiếng, giọng chậm rãi như đang ru một đứa trẻ vào giấc:

“Kẹp này đẹp thế, giá không thể rẻ được đâu con. Nhưng dù ngày mai không ai mua, muội cũng đừng buồn nhé. Cha mẹ có nhịn miệng cũng nuôi được muội. Gậy ông không đập được lưng bà đâu con.”

Muội đứng ngẩn ra một lát, rồi cúi xuống, tựa mặt vào vai mẹ, nghe rõ tiếng tim mẹ đập chậm mà chắc, như tiếng chày giã gạo đầu thôn.

Ta xuyên đến kiếp này, đã bốn ngày. Bốn ngày ấy ta đã nghe được nhiều lời ấm hơn cả hai mươi lăm năm cô nhi viện kiếp trước. Đường phèn ngậm trong miệng còn có ngày tan, mà lời mẹ nói chỉ nghe một lần đã đủ theo ta cả một đời.

“Vâng ạ,” muội đáp, giọng nhỏ như tiếng mèo con rúc chăn, “mẹ ơi, muội không buồn đâu. Muội chỉ mong ngày mai bán được để mua tấm chăn bông mới cho mẹ. Chăn cũ mỏng lắm, đêm mẹ nằm co ro muội thấy hết.”

Mẹ khẽ cười, đưa tay vuốt tóc muội, ngón tay len qua búi tó nhỏ như đang tết lại cả một mùa xuân.

Bếp lửa vẫn cháy liu riu, khói thoảng mùi rơm ngai ngái. Ngoài sân, sương xuống dày, đêm mùa xuân miền Giang Nam ướt mà ấm. Trên cái bàn tre trong nhà, cái kẹp tóc bướm ngọc bé xíu nằm trên tấm khăn mộc, cánh xanh vẫn hắt lên trần nhà một vệt sáng dịu, giống như đang chờ trời hửng để cất cánh.

Ngày mai. Phiên chợ Thanh Châu. Muội sẽ xuất hiện lần đầu tiên trong bộ áo bố có vá ba miếng, tóc búi tó nhỏ xíu, tay ôm cái hộp cỏ khô đựng nửa cánh bướm mùa xuân.

Ta đến đây rồi, kiếp này. Ta không rời đi nữa. Cả nhà đã cưng ta như công chúa, ta cũng phải cưng cả nhà lại như báu vật, dù trong lu chỉ còn nửa bơ gạo, dù ngoài kia sương gió chưa tan.