Muội Là Công Chúa Nhà Nghèo

Chương 5: Nến Đầu Tiên Cháy

Đêm hôm trước, muội mơ thấy một cụ bà mặc áo lụa xanh xám ngồi bên bàn đá trong không gian, tay bà chỉ xuống chân bàn, giọng bà mềm như sương sớm phủ lên khóm cỏ ba lá bên bờ suối. Cụ không nói tên, không nói tuổi, chỉ dặn muội một câu: dưới đất, có thứ chờ Kiều Kiều nhi bảy năm rồi, đêm nay là đêm được mở. Muội chợt tỉnh, trời còn tờ mờ, gà nhà bà Tư đầu ngõ mới gáy lượt đầu, mà trong lồng ngực bé xíu của muội đã cồn cào không ngủ tiếp được. Tấm chăn bông vá bảy chỗ vẫn phủ ngang eo, ấm như một con mèo con cuộn tròn ôm vào bụng, nhưng ba chữ “nến trầm hương” mà tờ giấy vàng ố hôm qua để lộ trong hộp gỗ khảm trai cứ chờn vờn trước mắt muội như bóng đèn dầu leo lét cả đêm không chịu tắt.

Muội khẽ nghiêng đầu, nhìn sang phía giường cha mẹ, thấy cha đang gối tay ngủ say, tiếng thở đều đều như tiếng suối chảy sau vườn, tấm áo bố cũ bạc màu đắp qua vai cha xộc xệch. Mẹ nằm cạnh, tay còn nắm hờ một góc chăn của muội, sợ giữa đêm muội đạp tung. Ta hai mươi lăm tuổi kiếp trước, mồ côi lớn lên trong cô nhi viện, chưa từng thấy có ai ngủ mà tay còn giữ mình như thế. Muội hít một hơi thật khẽ, không dám phát ra tiếng, đưa tay tháo mấy ngón mẹ ra khỏi mép chăn của mình, rồi rón rén bò xuống chân giường.

Đất nền lát vôi trộn tro của gian trong hơi lành lạnh, chân muội bé xíu đặt lên nghe mát ran lên tận sống lưng. Muội quàng tấm áo bông cũ của nhị ca vốn đã ngắn củn cho mình đủ dùng, kéo cửa buồng khép nhẹ tay đúng cách mẹ dạy, không cho phát ra tiếng động. Muội đi qua gian ngoài, đèn dầu trên án thờ tổ tiên đã leo hết, chỉ còn chút hơi ấm than trong bếp rịn rịt thoang thoảng qua khe phên nứa. Ta thầm khấn tổ tiên nhà Trần một câu ngắn, mong tổ tiên độ trì cho ta hôm nay chế thành cây nến đầu tiên, cả nhà không phải nhịn miệng thêm một ngày nào nữa.

Ra đến sau vườn, gốc đào già bảy mươi tuổi đứng lặng trong sương, thân sù sì như bàn tay lão nông, mấy giọt sương đêm còn đọng ở kẽ vỏ chưa kịp bay. Muội chọn đúng chỗ khuất tầm mắt từ trong bếp nhìn ra, ngồi thụp xuống, ép lưng vào vỏ gồ ghề, xoè lòng bàn tay trái. Đường sáng nhỏ giữa các nếp chỉ tay hôm nay hiện rõ hơn hôm qua, vàng ấm như hơi thở cuối cùng của than trấu trong bếp mẹ. Muội nhắm mắt, một tiếng “cách” khẽ vang trong đầu, sợi tơ vô hình lại kéo tay muội đi tới trước, chân muội đạp lên hư không, mí mắt bỗng nặng như vừa ngủ dậy.

Muội mở mắt ra, gốc đào già đã lùi khỏi lưng, tiếng gà xa mất tăm, đứng thay vào đó là ánh sáng vàng dịu như chiều tà đầu thu phủ đều lên khoảnh vườn ba sào của muội. Suối vẫn chảy róc rách bên phải, giá gỗ ba tầng đầy hũ sành hương liệu bên trái. Muội đi thẳng đến bàn đá cuối vườn, thấy ngay bên cạnh bàn đá có một gốc đào con hôm trước muội không để ý, cao ngang eo muội, thân thẳng đứng như một mũi tên chỉ trời, lá non xanh mỡ, mấy nụ hồng nhạt đầu cành hé mở như đầu ngón tay em bé. Cụ bà trong mộng đêm qua đã chỉ đúng gốc này. Muội ngồi xuống chân bàn đá, bới nhẹ lớp đất tơi mịn dưới chân bàn, ngay sát chân gốc đào con.

Chỉ moi được chừng hai đốt ngón tay, lòng bàn tay bé xíu của muội đã chạm phải một vật cứng lành lạnh. Muội nín thở, hai tay bới thêm một vòng nữa, lộ ra một cái bát sành nhỏ đã lấm tấm rêu xanh mọc quanh vành ngoài. Bên trong bát, chất đầy một loại vụn nhỏ màu nâu sậm, hạt to bằng hạt đậu, hạt nhỏ bằng đầu tăm, phát ra một sợi hương rất khẽ giống hơi thở của rừng già mà kiếp trước ta chỉ mơ ngửi được một lần trong đời. Trầm hương thật. Trầm hương lâu năm. Trầm hương chưa hề bị đánh bột giả bán ở chợ. Ta muốn ôm cái bát vào lòng khóc một trận, nhưng phải nén lại, mắt muội đã cay lên rồi.

Cạnh bát trầm, giấu dưới một hòn cuội trắng bằng nắm tay trẻ con, có một cuộn nhỏ dài bằng ngón út, bọc trong lớp lá tre mỏng. Muội gỡ ra, bên trong là bấc lụa trắng ngà, se rất khéo, mảnh như tơ nhện mà chắc như dây câu. Bấc lụa thật. Kiếp trước ta chế hương chế nến bao lần, chưa dám mua nổi một cuộn bấc lụa nào cho ra hồn, chỉ dùng bấc bông tự se, thắp lên khói đen bay đầy phòng. Cuộn bấc dài chừng hai gang tay muội, đủ cho ta se ra chừng mười cây nến nhỏ. Ta đặt bấc bên cạnh bát trầm, ngước lên nhìn bàn đá, cụ bà trong mộng đêm qua chưa hiện ra, nhưng lòng ta hiểu.

Đây là gia truyền. Là của mẹ ruột không rõ mặt của thân xác Trần Kiều Kiều này để lại, hoặc là của một tổ tiên xa xôi nào đó của nhà Trần, được không gian gìn giữ chờ đúng ngày một đứa cháu có phúc mở cửa bước vào. Không cần biết chính xác của ai, muội cúi đầu vái ba vái về phía bàn đá, thầm cảm ơn, thầm hứa sẽ không phụ. Ta thầm dặn mình, đã là gia truyền thì phải nâng như nâng trứng, một hạt trầm cũng phải giữ, một sợi bấc cũng phải quý, không được vung tay như thể của trời cho.

Muội gói cái bát vào vạt áo, dùng dải khăn mẹ cột ngang bụng muội buộc thêm một vòng cho chắc, ôm cuộn bấc lụa vào lòng, mới nhắm mắt gọi cửa mở lại. Một tiếng “cách” khẽ nữa, muội đã ngồi lại dưới gốc đào già, sương xuống lấm tấm ướt cả tóc mai, phía trong bếp mẹ mới bắt đầu nhóm lửa, khói bếp bay lên qua khe phên trắng mờ trong ánh sáng ban mai đầu tiên.

Muội giấu bát trầm và cuộn bấc lụa vào đúng cái hộp gỗ nhỏ cha đóng cho muội để đựng hạt cải khô, đặt gọn dưới chân giường, phủ tấm khăn cũ lên trên, rồi bò lại vào giường như chưa hề đi đâu, kéo chăn bông vá lên tận cằm. Mẹ tưởng muội mới trở mình, nắm lại tay muội thêm một cái, gà nhà bà Tư gáy hồi thứ hai. Ta nằm im, trong đầu bắt đầu tính từng bước một, hôm nay ta phải xin cho được nửa lượng sáp ong của mẹ, không xin được thì nhất định không chế nến kịp trong ngày.

Sáng sớm mẹ dậy nấu cháo loãng, cha đi bổ củi đầu ngõ, đại ca đã sang nhà ông Trịnh làm thuê từ gà gáy đầu, nhị ca vác lồng cá suối ra khe đá cạnh cầu tre. Chỉ có tam ca ngồi đầu hè, đọc quyển Luận Ngữ cũ mượn của thầy đồ, thấy muội dậy liền cười khẽ, đưa tay xoa đầu muội một cái, hỏi hôm nay muội có định theo tam ca ra cầu tre đọc chữ không. Muội lắc đầu, giọng ngái ngủ, muội muốn ngồi bên bếp phụ mẹ nhặt rau. Tam ca gật, không hỏi thêm, cúi xuống đọc sách tiếp, ngón tay thon dài chỉ theo từng chữ trên trang giấy dó, chậm rãi như trẻ con đếm hạt đường phèn trong lọ.

Muội vào bếp, mẹ đang khuấy cháo bằng cái đũa cả, nghe muội đến, quay lại cười hiền, kéo muội ngồi lên chiếc đôn thấp cạnh bếp. Bếp lửa mới nhóm còn hơi khói cay, nhưng ngồi lâu một chút thì ấm rất mau. Mẹ ơi, mẹ ơi, muội gọi hai tiếng, rất khẽ, giọng bé xíu như tiếng mèo con dụi vào bàn tay mẹ. Mẹ dạ, mẹ cười, mẹ nghĩ muội đói bụng, đưa cho muội miếng khoai lang nướng vụn còn ấm bọc trong lá chuối, chỗ khoai này thực ra là mấy vụn cháy sém đáy nồi hôm qua mẹ dành lại. Muội cầm, cắn một miếng nhỏ, bỗng thấy vị khoai ngọt đến chảy cả nước mắt.

Ta kiếp trước hai mươi lăm năm, chưa từng có ai để dành cho ta một miếng khoai vụn nào cả. Chỉ có mẹ nhà nghèo trong túp lều dột này, sáng nào cũng gói riêng cho đứa con út vụn khoai cháy sém ở đáy nồi. Muội hớp thêm hơi ấm ẩm của bếp, mới hỏi, mẹ ơi, cái sáp ong mẹ để dưới rương nứa, mẹ còn để dành làm son cho lễ tổ tháng ba không.

Mẹ ngẩng lên, hơi ngạc nhiên, đưa mu bàn tay quệt vệt tro trên gò má rồi cười, muội con muốn gì, cứ nói với mẹ. Muội thấy mẹ hỏi ngay như thế, tim đập chậm hẳn một nhịp, không dám bịa quá xa. Muội cắn môi, nghĩ nhanh một câu, mẹ ơi, đêm qua muội mơ thấy một bà cụ áo lụa xanh, bảo muội có thể trộn sáp ong với chút nhựa trầm ngoài rừng, làm ra thứ đèn thơm, cháy được cả đêm, đốt lên thì cha khỏi thức nhóm bếp mãi thế này.

Mẹ nghe xong, cái đũa cả trong tay khựng lại ngang miệng nồi, một giọt cháo loãng rơi tí tách xuống mặt bếp. Mẹ nhìn muội, mắt mở to, hai giọt nước lăn xuống hai bên má, mẹ không nói gì, chỉ đưa tay kéo muội vào lòng, ôm chặt một lúc lâu. Ta ngồi trong vòng tay mẹ, ngửi mùi mồ hôi mẹ trộn với mùi khói bếp trộn với mùi cải muối chua thoảng ra từ vại sành trong góc, thấy cả người ấm lên như vừa uống chén trà nóng buổi rét, tay chân không còn nghe lành lạnh nữa.

Mẹ đứng dậy, đi ra góc buồng, mở nắp rương nứa, lấy cái hũ sành nhỏ đậy nắp vải đỏ, bên trong chỉ vỏn vẹn còn nửa lượng sáp ong màu vàng mật, mềm, thơm mùi phấn hoa xa xưa của một mùa xuân nào đó rất cũ. Mẹ đưa cả hũ cho muội, không lấy lại một chút nào, giọng nghẹn lại, son môi lễ tổ mẹ không cần đâu, đàn bà nhà nông ai bôi son mà làm gì, muội cứ dùng hết đi, làm được cái đèn thơm cho cha đỡ khổ đêm khuya là mẹ vui rồi. Muội cầm hũ, tay run, mím môi không cho nước mắt rơi trên nắp vải, mẹ cứ vén tóc mai muội hoài không thôi.

Ta thầm quyết trong đầu, kiếp này cây son môi của mẹ, ta phải bù cho mẹ gấp mười lần, gấp trăm lần, không những son môi, còn tấm áo lành, còn đôi hài mới, còn cả một mái ngói không dột, tất cả đều phải bù cho mẹ. Muội đứng dậy, gật đầu một cái với mẹ, ôm hũ sáp ong ra sau vườn. Trước khi đi, mẹ dặn với thêm, có gì gọi mẹ, đừng để cháy tay, đừng để phỏng chân, muội con còn nhỏ, cẩn thận là hơn.

Sau vườn, sát chỗ hàng rào tre, cha đã dựng sẵn cho các huynh một bếp than nhỏ để nướng cá suối những buổi mùa hè, giờ nó nằm im, tro nguội, mấy hòn than cháy dở nằm rải rác. Muội moi thêm ít củi vụn từ đống củi cha đã bổ sáng, nhóm bằng cách quẹt lửa vào một mảnh giẻ dầu mà nhị ca hay dùng lau lưỡi liềm. Ta ngày trước ở kiếp trước lên phòng thí nghiệm hương liệu bao lần, nhóm bếp than lộ thiên thế này lại là lần đầu, hơi lóng ngóng, nhưng cũng châm được lửa sau ba lần thử. Ngọn lửa nhỏ liếm vào giẻ dầu, khói lên đen kịt một hơi, rồi than bén, đỏ lên chậm rãi như trứng gà ấp trong ổ.

Muội đặt cái nồi đất nhỏ mà mẹ dùng kho tép lên bếp than, cho hết nửa lượng sáp ong vào, chờ sáp tan chảy dần dần thành một chất lỏng vàng óng trong suốt như mật ong nấu chín, mùi phấn hoa cũ thoảng lên nhẹ nhẹ hoà với mùi khói củi. Trong lúc đợi, ta lấy con dao thái rau nhỏ của mẹ, băm trầm hương vụn thành hạt càng nhỏ càng tốt, hạt to thì mùi bung ra thô, hạt nhỏ mới thấm đều vào sáp, cháy đều, không nổ khói. Kiếp trước học nghề bốn năm, ta thuộc từng bước này như thuộc lòng bàn tay, có nhắm mắt cũng làm được.

Bấc lụa muội đã se sẵn từ trong buồng, cắt ra chừng ba đoạn dài bằng ngón tay giữa của cha, mỗi đoạn cắm vào một cái khuôn ống tre mà đại ca chặt cho muội hôm qua, lồng cây đũa nhỏ ngang miệng ống để giữ bấc thẳng đứng ở chính giữa. Ta xếp ba ống tre thành hàng ngay ngắn trên phiến gạch cũ, đợi sáp ong tan hết mới thấy đến khâu khó nhất, chính là căn nhiệt để đổ khuôn không nứt thân sáp.

Muội bốc trầm vụn thả vào nồi sáp, khuấy đều bằng đầu đũa. Mùi hương lập tức bung lên, dày, ấm, dịu như tiếng mẹ ru trong đêm mưa, thấm cả vào tấm áo bông cũ của nhị ca muội đang mặc, thấm cả vào tóc mai muội. Ta nhắm mắt hít một hơi, cảm giác kiếp trước cực khổ chế hương công nghiệp mấy năm ròng chưa từng bằng một hớp hương này. Trầm gia truyền có khác, hương không sực, không hắt, mà nhẹ như sương sớm rơi trên cỏ lá, ngửi vào lòng liền dịu đi, giống như có ai đắp cho một tấm chăn bông ấm giữa đêm mưa gió.

Muội nhấc nồi khỏi bếp than, đổ sáp trầm nóng từ từ vào từng ống tre, tay giữ chắc để bấc lụa không nghiêng qua một bên. Đổ đến khi sáp trong ống chỉ còn cách miệng ống chừng một khấc ngón tay muội mới ngừng. Ba cây nến đầu tiên của kiếp này đứng thẳng trên phiến gạch cũ, mặt nến còn óng ánh mấy vệt nâu của trầm vụn nổi lên như sao trên trời đêm hè.

Muội đợi sáp nguội bớt, mặt sáp se cứng dần, se từ ngoài vào trong, mới nhẹ nhàng tách ống tre ra. Ba cây nến nhỏ tròn tròn, cao ngang gang tay muội, thân sáp vàng mật, lấm tấm vệt nâu của trầm, đầu bấc lụa se lên trên trắng ngà. Ta nâng một cây lên, ngắm dưới ánh mặt trời sáng đã lên đến ngọn tre, khẽ mỉm cười một mình. Bây giờ, khâu cuối cùng, thử châm lửa.

Muội bưng ba cây nến, cùng cái khăn tay có vệt tro, đi qua sân, vào gian trong, đặt lên bàn tre giữa nhà nơi cha thường ngồi vót nan tre. Cha vừa đi bổ củi về, đặt bó củi xuống thềm, thấy muội bày ba cây nến vàng mật lên bàn, ngạc nhiên gãi đầu, hỏi muội học đâu ra làm được thứ này. Muội chỉ cười, nói mẹ đã cho sáp ong, muội mượn bếp than sau vườn, chế cho cha một cây đèn thơm để cha không phải thức đêm nhóm lò nữa.

Mẹ trong bếp nghe được, cầm cái đũa cả bước ra, nhị ca vác lồng cá về vừa kịp ngoài ngõ, tam ca gấp sách Luận Ngữ, cả nhà xúm quanh bàn tre, mỗi người một ánh mắt tò mò. Muội xoè bàn tay bé xíu, cầm cái diêm đá lửa cha vừa mài xong hôm kia, quẹt vào mảnh gỗ khô cha để sẵn ở cạnh bếp, chấm lửa vào đầu bấc lụa cây nến giữa.

Ngọn lửa nhỏ như hạt gạo bùng lên, ngần ngại giữa đầu bấc trắng ngà, rồi liếm dần xuống, hoà tan chút sáp mật quanh chân bấc, thân nến bắt đầu tan mềm ra một vòng nhỏ, lửa cháy đều, không nổ, không khói. Trong khoảnh khắc kế tiếp, mùi trầm ấm bung ra khắp gian nhà, thấm vào từng thớ tranh trên mái, vào từng khe phên nứa, vào cả tấm chăn bông vá mẹ đang gấp bên cạnh giường.

Cả nhà im lặng một hồi. Cha hít một hơi thật sâu, mắt cha long lanh, môi cha mím lại. Mẹ đứng cạnh cha, hai tay cầm chặt vạt áo, không nói được gì, mắt nhìn cây nến như nhìn một đứa cháu vừa được đón về từ chợ. Nhị ca há hốc mồm, quên cả cái lồng cá còn cầm ngoài ngõ, con cá suối trong lồng vẫn nhảy tanh tách mà nhị ca không hay. Tam ca gấp sách lại, ngước lên nhìn cây nến rồi nhìn muội, ánh mắt kinh ngạc như nhìn thấy sao mai giữa ban ngày.

Nến thơm 'Đen Trầm Tính' · Trạm Hương, hương gỗ trầm ấm

Nến thơm 'Đen Trầm Tính' · Trạm Hương, hương gỗ trầm ấm

179.000đ

Xem chi tiết →

Muội cúi đầu, giả bộ giấu nụ cười, thầm trong lòng đắc ý. Đại ca lúc đó vừa từ nhà ông Trịnh về sớm hơn dự tính, mồ hôi còn ướt lưng áo bố, bước vào ngõ thấy khói hương thơm bay ra tới cổng, ngơ ngác đứng ở bậu cửa, đôi vai gầy hơi run, tưởng nhà có khách quý ghé chơi. Mẹ ngoắc tay gọi đại ca vào, đại ca đặt liềm cắt cỏ ngoài hiên, cởi tấm áo bố ướt mồ hôi vắt lên vai, mới rón rén bước tới bàn tre, đôi chân trần đi khẽ như chú mèo con sợ làm rung cả bàn.

Đại ca cúi xuống nhìn cây nến nhỏ, không dám chạm, chỉ đưa mũi ngửi. Mùi trầm ấm nhẹ nhàng luồn qua sống mũi, làm đại ca chớp mắt liền mấy cái, mấy vệt nắng chiều lọt qua khe phên nứa hắt lên má đại ca một vệt nâu vàng. Đại ca cao gầy, tay chai sạm nứt bảy chỗ, mà giọng của đại ca lúc quay sang muội lại mềm như đường phèn nấu chảy trong bát chè, Kiều Kiều nhi, cây nến này thơm thế, đại ca chưa từng đốt loại nến nào thơm thế này, ở chợ Thanh Châu người ta bán bao nhiêu.

Muội chớp mắt, giọng lí nhí, muội chưa từng ra chợ Thanh Châu bao giờ, muội không biết. Mẹ liền đỡ lời, mẹ bảo hồi nhà mẹ chưa gả về đây, cửa hàng hương liệu trong trấn Thanh Châu bán một cây nến trầm hương to bằng cổ tay đàn ông đến hai lượng bạc, nến nhỏ như của muội chắc cũng nửa lượng. Đại ca nghe xong nuốt nước bọt, không nói gì, chỉ đưa bàn tay chai đặt lên đầu muội, giữ ở đó rất lâu, ngón tay đại ca hơi run, hình như đang tính nhẩm chuyện gì.

Nhị ca thấy vậy, quay sang huých vai tam ca một cái đau điếng, tam ca cứ đọc sách hoài, thấy Kiều Kiều nhi giỏi thế mà không khen một câu, có lỗi lắm nhe. Tam ca đẩy nhị ca ra, cười khan, giơ quyển Luận Ngữ lên đầu che gió, đệ đọc “Ôn cố tri tân, khả dĩ vi sư hĩ”, đệ đang ngẫm câu ấy đúng với muội đó thôi, đâu phải quên khen. Nhị ca không chịu, lại huých một cái nữa, tam ca đành thúc thủ, quay sang xoa đầu muội, nói khe khẽ, muội muội của ta thông minh hơn cả trò lớn trong lớp thầy đồ. Muội bật cười, ta hai mươi lăm tuổi kiếp trước chưa bao giờ được nghe ba huynh anh em cãi nhau vì ai khen muội trước, giờ nghe mà cả người ấm như vừa được đắp chăn bông trong đêm mưa.

Mẹ vừa cười vừa lấy vạt áo lau nước mắt, giục cha ngồi xuống ăn bát cháo loãng nóng cho ấm bụng. Cha ngồi xuống, tay còn đưa lên xoa xoa cây nến đang cháy như xoa đầu một đứa con nhỏ, mãi mới quay sang muội hỏi, Kiều Kiều nhi, muội học công thức này ở đâu, cha đi khắp Đào Khê chưa từng nghe ai bảo trộn sáp ong với trầm hương làm nến, muội thử kể cha nghe được không.

Muội đã tính trước cả trong đầu, đưa tay dụi mắt như trẻ con vừa ngủ dậy, cha ơi, đêm qua muội mơ thấy một cụ bà mặc áo lụa xanh xám, ngồi bên gốc đào già, cụ bảo muội là con cháu nhà Trần, tổ tiên Trần gia để lại bí phương này giấu trong lòng đất, đợi con cháu có tâm mới chỉ ra, cụ cầm tay muội dạy công thức, muội tỉnh dậy thì nhớ nguyên vẹn. Muội nói xong, mím môi, không dám nhìn thẳng mắt cha, chỉ đưa mắt liếc mẹ, mẹ chớp mắt gật đầu một cái rất khẽ, hình như tin muội thật.

Cha im lặng nhìn muội hồi lâu, không hỏi thêm, chỉ nhẹ nhàng vuốt tóc mai muội. Mẹ ngồi xuống bên cạnh, giọng khe khẽ, nhà mình có tổ tiên độ trì, phúc phần này không phải nói được. Cha gật đầu, khẽ đáp, Kiều Kiều nhi vốn thông minh trời sinh, đêm qua có tổ tiên chỉ, cha không lấy làm lạ. Ta thở phào một hơi thật khẽ trong lòng, chảy làng gặp lượng, chuyện qua được như thế là qua được rồi, không cần bịa thêm câu nào nữa.

Đại ca lấy chiếc ghế đôn thấp nhất kê cho muội ngồi cạnh cha, nhị ca chạy đi xin bà Tư đầu ngõ nửa nắm gừng khô về đun nước gừng cho cả nhà uống, tam ca gấp quyển Luận Ngữ, ngồi xuống đầu bàn, nhìn cây nến trầm cháy đều, khẽ ngâm một câu thơ nào đó muội chưa từng nghe, giọng tam ca trong như tiếng chuông đồng nhỏ. Mẹ bưng ra cả nhà mỗi người một bát cháo loãng, hôm nay cháo có thêm mấy hạt muối trắng nhị ca xin được từ nhà bà Tư, húp vào đậm đà hơn hẳn mọi ngày.

Cả nhà ngồi quanh bàn tre, cây nến trầm ở giữa cháy đều, ba cây khác chưa châm đứng chờ bên cạnh như ba đứa em nhỏ ngoan ngoãn xếp hàng. Mùi trầm ấm hoà với hơi cháo nóng, hoà với mùi mồ hôi ngày dài của cha và đại ca, hoà với mùi bếp cũ của mẹ, tất cả cuộn lại thành một mùi mà kiếp trước hai mươi lăm năm ta không biết gọi tên, chỉ biết là mùi ấy chạm đến đâu thì ấm đến đó. Muội húp một hớp cháo nóng, ngước lên nhìn cả nhà, thầm mỉm cười, cảm giác cả nhà cười khan như đường phèn tan trong bát cháo nóng, dịu, ngọt, không bao giờ tan hết.

Bữa cháo đó ăn xong, mặt trời đã ngả về tây. Mẹ dọn bát đũa xuống suối rửa, nhị ca đi theo phụ mẹ, tam ca ngồi bên đèn dầu bắt đầu chép lại đoạn Luận Ngữ đang học vào tờ giấy dó cha đổi được từ trấn tuần trước. Đại ca ra ngõ vá lại đoạn hàng rào tre bị nghiêng sau đêm mưa, lâu lâu lại ngoái đầu vào nhà nhìn cây nến đang cháy, ánh nhìn của đại ca ấm mà cũng lo, hình như đang nghĩ về hai chữ nửa lượng bạc mà mẹ vừa nhắc. Cha ở lại trong nhà với muội, ngồi đầu bàn tre, tay cha đặt lên vai muội rất khẽ, mắt cha nhìn cây nến trầm hương chưa cháy hết một nửa.

Đêm xuống nhanh như một tấm khăn nhung được ai thả trùm lên mái tranh. Sương lại giăng ngoài sân, con mèo mướp nhà bà Tư quen thói sang chỗ bếp nhà muội nằm ngủ, cuộn tròn cạnh chân bàn tre, mắt lim dim theo ngọn lửa nến. Cây nến trầm hương của muội cháy đều, ngọn lửa nhỏ vàng cam như hạt lúa chín, không nổ tép, không tắt vì gió lùa qua khe phên nứa, cả gian nhà thơm dịu như ai vừa treo một túi hương thảo trong tủ áo cũ.

Muội gục đầu vào vai cha, mí mắt nặng dần, đôi hài cỏ mẹ đan cho muội tuột ra khỏi bàn chân bé xíu tự lúc nào. Cha nhấc muội lên lòng, quàng thêm nửa tấm chăn bông vá bảy chỗ qua vai muội, tay cha ấm hơn cả bếp than sau vườn. Cha cứ ngồi như thế, không nói câu nào, chỉ nhìn cây nến trầm hương của muội cháy trọn đêm không tắt. Ta trong mơ màng nghe cha thở dài mấy lần rất khẽ, mỗi lần thở dài lại kéo tấm chăn bông trên vai muội cao lên thêm một đoạn.

Đến khi trời gần rạng, gà nhà bà Tư gáy lượt đầu, cây nến vẫn cháy, sáp mật vàng đã tan đến gần đáy, mùi trầm còn thơm khắp nhà, mấy vệt sáp chảy tràn xuống chân đế bằng gạch cũ đọng lại thành một cánh hoa nhỏ vàng ong. Cha cầm cây nến lên, nâng ngang tầm mắt, đôi mắt cha sáng lên như bóng trăng non lọt qua miệng giếng vào một đêm mùa hè, giọng cha trầm khàn, khe khẽ đủ để một mình muội đang mơ màng trong lòng cha nghe được.

Cây nến này, nếu đem lên trấn Thanh Châu, cha nghe mẹ muội bảo bán được nửa lượng bạc. Nửa lượng, đủ đổi cho muội một đôi hài mới bằng vải bố mềm, không đến nỗi ngày đông chân muội bị hàn khí ngấm đau nhức xương. Nửa lượng, đủ đổi cho mẹ muội một tấm áo lành lặn, không rách vai như tấm mẹ mặc bảy năm nay chưa dám thay. Kiều Kiều nhi, muội có tin cha nói không, cha đi nương cả đời chưa từng nghĩ có ngày cha được cầm trong tay một cây nến trị giá nửa lượng bạc.

Muội gật khẽ trong mơ màng, tay bé xíu nắm lấy ngón trỏ chai sạm của cha, không nói được gì, chỉ để nước mắt lăn xuống khoé mắt, thấm vào vạt áo bố cũ của cha. Ngoài mái tranh dột, sương sớm mùa xuân xuống lấm tấm, một cánh bướm đêm lạc lối đậu bên khung cửa sổ nứa, cánh nó khẽ run trong ánh nến, giống như một cánh bướm ngọc bé xíu chưa được ghép đủ đôi đang chờ ngày ai đó tìm được cánh còn lại về cho nó.

Muội không hay, sát vách bên kia hàng rào, có một bóng người đứng lặng từ lúc nào, mũi khẽ động, hít lấy hít để mùi trầm hương lạ lẫm chưa từng ngửi thấy ở đất Đào Khê nghèo khó này bao giờ.