Muội Là Công Chúa Nhà Nghèo
Chương 4: Đại Ca Đi Rẫy
Trời chưa sáng hẳn, gà trong chuồng nhà bà cả Tú đầu ngõ mới rục rịch gáy tiếng đầu tiên nghe khàn khàn như cụ già mới thức dậy húng hắng ho. Sương xuống dày trên mái tranh, rơi xuống lá chuối sau nhà từng giọt tí tách, nghe rất khẽ mà cũng đủ khiến muội trở mình trong chăn bông vá bảy chỗ. Muội nằm nghiêng một bên má, hé mắt nhìn qua khe cửa buồng, thấy dưới ánh đèn dầu leo lét ở gian giữa có một bóng người ngồi cúi khom, gấp đi gấp lại một tấm lá chuối xanh non đã hơ qua lửa cho mềm. Người đó chính là đại ca, dáng cao gầy như một cây tre non gặp gió, hai vai thô nhô lên khỏi lớp áo bố cũ đã bạc màu qua ba đời con nít nhà Trần.
Muội thức hẳn, không dám cựa mạnh, sợ chăn bông cọ vào manh chiếu cói phát ra tiếng sột soạt là mẹ trong buồng bên biết ngay. Ta ở kiếp trước, chưa từng có ai vì ta mà dậy trước gà gáy để gói cơm nguội, chưa từng có bàn tay nào chai sạm đến độ nứt bảy chỗ mà lại nhẹ như mèo con khi đi ngang giường ta. Muội hơi cắn nhẹ đầu ngón tay út, giữ cho mí mắt đừng cay, giữ cho mũi đừng khịt khịt phát ra tiếng, nằm nghe từng cử động rất khẽ của đại ca ngoài kia.
Trên bàn tre gian giữa, một củ khoai lang tím lớn vừa luộc chín được đại ca bóc vỏ bằng ngón tay cẩn thận, không để một mẩu vỏ nào rơi xuống đất. Đại ca xé khoai thành ba miếng gần bằng nhau, dàn đều lên tấm lá chuối, rồi bốc thêm một nắm cơm nguội độn nhiều khoai từ nồi đất mà mẹ để sẵn từ đêm qua. Trên cùng, đại ca rắc một nhúm muối vừng nhỏ xíu, thứ muối vừng mà mẹ dành cho tam ca ăn với cơm đi thi, cả nhà bình thường không dám động vào. Muội thấy đại ca do dự một lúc, cầm nhúm vừng lên đặt xuống ba lần, cuối cùng vẫn để lại một nửa, chỉ mang theo một nửa cho ba ngày đi rẫy. Đôi tay chai của đại ca gấp lá chuối lại, gấp nếp gấp gọn đến độ ngay ngắn như một chiếc gối con, buộc bằng sợi dây gai vàng vàng vừa bện xong tối qua.
Ta nằm im, trong lồng ngực nhỏ xíu này bỗng dâng lên một cơn nôn nao rất lạ, không phải nôn nao vì đói, không phải nôn nao vì lạnh, mà là cơn nôn nao của người lần đầu tiên trong đời hiểu thế nào là “được thương”. Kiếp trước ta hai mươi lăm năm cô độc, chưa từng thấy ai gói cơm cho ai theo cách gói này, chưa từng thấy một nắm muối vừng bị chia đôi mà đôi ấy chia bằng cả một trái tim đang gánh nợ áo cơm cho cả nhà. Muội chớp mắt ba lần cho khô nước trong khoé mắt, mới dám nhẹ nhàng tuột xuống giường, chân trần đạp lên nền đất mát lạnh còn ẩm hơi sương.
Đại ca ngẩng đầu lên, thấy muội đứng ở khe cửa buồng, hai mắt còn ngái ngủ, tóc rối như một khóm cỏ đêm bị gió cuốn. Đại ca vội vàng đặt gói cơm xuống bàn tre, đi lại phía muội, giọng thì thầm sợ làm cha mẹ tỉnh: “Kiều Kiều nhi, sao dậy sớm thế, còn tối trời, đi lại nền lạnh chân, mai đến chợ đại ca mua cho muội đôi hài mới”. Bàn tay đại ca đặt lên đỉnh đầu muội, ấm áp lạ thường, như đèn dầu vừa châm còn thơm mùi mỡ heo. Muội ngước lên nhìn đại ca, ánh đèn dầu vàng nhạt hắt lên gò má cao và đôi mắt sâu, làm ta chợt thấy huynh không giống một đứa trẻ mười lăm tuổi, mà giống một người cha con nít, gánh cả tuổi thơ của bao nhiêu người trên đôi vai chưa kịp lớn.
Muội khẽ dụi mặt vào bụng áo bố của đại ca, hít vào một hơi sâu, ngửi thấy mùi khói bếp, mùi rơm cũ, mùi mồ hôi lẫn vào một chút mùi lá chuối hơ lửa còn tươi. Trong lòng bàn tay muội đang giấu một thứ, ấm và cứng, bọc trong khăn tay vải thô. Đó là một cục đường phèn to bằng ngón út, trong veo như một giọt sương đông cứng, muội vừa lén lấy từ hộp gỗ khảm trai trong không gian tâm linh ban đêm, kiếp trước ta ở đâu ra được thứ đường phèn kết tinh mịn đẹp thế này. Muội ngập ngừng một chút, mới rút tay ra khỏi lòng bàn tay đại ca, dúi cục đường phèn vào lòng bàn tay đại ca, nói khẽ như mèo con: “Đại ca, muội nhặt được ở gốc đào chiều qua, chắc chim nào tha đến, đại ca mang đi rẫy ngậm cho đỡ khát”.
Đại ca cúi xuống nhìn cục đường phèn, ánh đèn dầu rọi vào ngọc lê pha lê ấy làm nó lấp lánh như một hạt sao rơi giữa lòng bàn tay chai. Đại ca ngẩn ra ba nhịp thở, rồi bật cười khẽ, tiếng cười trầm ấm như tiếng trà rót vào chén sứ: “Kiều Kiều nhi lại nói dối đại ca, gốc đào già bảy mươi tuổi nhà mình chưa từng có chim nào tha đường phèn tới, đại ca chắc phải là mộng thấy tiên nữ rồi”. Muội chột dạ, hai má đỏ lên, nhưng vẫn ngoan cường ngước mắt lên nhìn, ánh mắt trẻ con thành khẩn hết sức: “Thật mà đại ca ơi, muội cũng ngạc nhiên lắm, chắc là ông trời thương nhà mình”. Đại ca xoa đầu muội, không hỏi thêm câu nào nữa, chỉ cẩn thận gói cục đường phèn vào một tấm khăn tay khác, giấu vào lớp áo bố sát lồng ngực, ngay chỗ trái tim.
Ta thấy đại ca giấu cục đường phèn vào chỗ ngực áo, tự nhiên trong lòng lại rưng rưng thêm một cơn nữa. Đại ca không ngậm ngay, không lôi ra khoe với nhị ca, không ăn liền cho đỡ đói. Đại ca giấu vào chỗ trái tim, để cả ba ngày đi rẫy nhà ông Trịnh, mỗi lần nhớ muội thì đưa tay sờ qua lớp áo bố, biết có một cục đường phèn của muội em nằm đó. Kiếp trước ta chưa từng có một anh trai, chưa từng có ai vì ta mà giấu một cục đường phèn nhỏ vào ngực áo, chưa từng có ai thương ta theo cái cách âm thầm mà đầy đặn như vầy.
Đại ca gánh gói cơm khoai lên vai, khoác thêm chiếc áo bố dày hơn có lót một lớp bông cũ đã sờn mép, hai tay xỏ vào đôi hài cỏ mà chính đại ca bện đêm qua bằng lá cọ già. Trước khi đi, đại ca ghé sát tai muội, dặn nhỏ: “Muội ở nhà ngoan, nghe lời cha mẹ, đừng chạy ra suối một mình, có gì thì tìm tam ca. Đại ca ba ngày sau sẽ về, mang hai đấu gạo và một xâu tiền lộ phí cho tam ca”. Muội gật đầu, đứng ở khe cửa buồng, nhìn theo bóng đại ca đi qua khoảng sân đất, khuất vào lối mòn dẫn ra bờ ruộng nhà ông Trịnh. Sương sớm bám lên vai áo bố của đại ca, rồi tan đi từng chút một khi mặt trời từ đằng đông vừa nhô lên khỏi luỹ tre, hắt một vệt vàng nhạt phủ lên toàn thân đại ca như phủ lên thân một cây tre non đang gánh cả mái nhà.
Muội đứng đó cho đến khi không còn thấy bóng đại ca nữa mới quay vào. Trong buồng, mẹ vừa tỉnh, đang ngồi vén tóc bằng cái lược tre có mấy răng đã sứt, thấy muội vào liền vẫy tay bảo lại gần. Mẹ ôm muội vào lòng, cằm mẹ tựa lên đỉnh đầu muội, giọng khàn khàn còn ngái ngủ: “Đại ca đi rồi phải không con, mẹ nghe thấy tiếng cửa cỏ khép nhẹ mà chưa kịp dậy tiễn. Chảy làng gặp lượng, cầu trời cho đại ca ba ngày đi rẫy trời không mưa, chân không đau, cha mẹ có mang tiếng nghèo cũng đủ ba đấu gạo cầm cự qua mùa giáp hạt”.
Muội áp má vào cổ mẹ, mùi khói bếp và mùi mồ hôi lẫn vào nhau ấm áp như mùi bánh khoai vừa mới lấy ra khỏi lò. Trong đầu ta lẩm nhẩm câu thành ngữ mẹ vừa nói, kiếp trước ở phố cao ốc ta chưa từng hiểu “chảy làng gặp lượng” nghĩa là gì, nay ngồi trong lòng mẹ Trần thị, cảm cái ấm truyền qua tấm áo lụa vá lỗ chỗ, ta mới hiểu. Chảy làng gặp lượng, nghĩa là dù có nghèo đến đâu, dù có phải chạy ăn từng bữa đến đâu, cũng có ngày ông trời gõ cửa mở cho một khe hy vọng nhỏ. Ta ngước lên nhìn mẹ, khẽ đáp: “Mẹ ơi, con hôm nay muốn ngồi bên bàn tre học tam ca đọc chữ nhé”. Mẹ cười, tay xoa xoa lưng muội, giọng dịu như đường phèn tan trong nước ấm: “Đứa nào cũng muốn ngoan, đứa nào cũng muốn học chữ, mẹ đâu có gì để lo”.
Trời sáng hẳn, nhị ca vác giỏ tre lên vai, cũng chuẩn bị đi rừng lấy nấm và tép suối. Nhị ca Trần Nhị Lâm mười hai tuổi, nhỏ con hơn đại ca một cái đầu, nhưng nhanh nhẹn hơn hẳn, chạy trên bờ ruộng như con chim sẻ non. Nhị ca không quên ghé sát đầu muội, thổi phù một cái vào tóc muội cho tóc rối bay lên, cười khà khà: “Kiều Kiều nhi ở nhà, chiều nhị ca về mang cho một xâu cá suối to nhất mùa này, mẹ nướng lá lốt cho muội ăn”. Muội gật đầu, đưa tay vuốt lại tóc, thầm mắng nhị ca trong bụng bằng giọng của một cô hai mươi lăm tuổi: đồ trẻ con, thổi tóc người ta rối cả đầu, may mà mèo con mới sáu tuổi này còn nể mặt.
Tam ca ngồi ở đầu hè, đọc sách trên chiếc bàn tre thấp, chân xếp bằng, lưng thẳng như một cây bút gỗ. Tam ca Trần Thanh Vân, mười bốn tuổi, dáng gầy nhưng ánh mắt trong veo như nước suối đầu nguồn, tóc chải gọn thắt lại bằng một sợi dây gai. Muội bước lại gần, ngồi bên cạnh tam ca, không nói gì, chỉ ngước mắt nhìn từng con chữ trên trang sách vàng ố. Tam ca thấy muội chăm chú, khẽ chỉ vào chữ đầu tiên, giảng nhỏ như đang hát ru: “Đây là chữ nhân, hai nét chống vào nhau, ý là người phải có bạn có bè mới đứng vững”. Muội gật đầu, thầm nhủ trong đầu, ta hai mươi lăm năm chỉ đứng có một mình, đúng là chưa từng vững. Nay xuyên vào Trần Kiều Kiều, mới thấy hai nét kia đâu chỉ là hai nét, mà là cha, là mẹ, là ba huynh, là cả một nhà chống vào nhau mà đứng qua từng cơn mưa dột.
Cha muội đi làm cỏ ruộng từ sáng, đến giờ Tị mới về, gánh trên vai một bó cỏ non đắp thêm cho con bò cái nhà ông cả Tú mà cha mượn cày mấy hôm nay. Cha đặt gánh cỏ xuống sân, đến bên hè xoa đầu muội, hỏi con gái yêu: “Sáng nay muội có ngoan không, cha có nghe mẹ kể muội tự dậy sớm tiễn đại ca đi rẫy”. Muội gật đầu, hai má lúm đồng tiền hiện rõ khi cha cúi xuống ẵm muội vào lòng. Cha đưa muội ra sân sau, chỉ vào một khoảnh đất nhỏ gần gốc đào già bảy mươi tuổi, giọng như bàn chuyện lớn với con gái: “Muội thấy chỗ này được không, cha định vỡ đất trồng cho muội mấy luống hoa cải với cà chua, mai kia có hoa vàng hoa đỏ, muội ra hái chơi”. Muội nghe cha nói, tim rung lên như dây đàn, gật đầu lia lịa. Ta ở kiếp trước, nhà cô nhi viện chưa từng có một luống hoa nào là “của mình”, chưa từng có một người cha nào bàn chuyện trồng hoa với con gái nhỏ.
Chiều buông xuống, sương lại lên nhè nhẹ từ bờ ao trước ngõ, phủ lên hàng rào nứa một lớp trắng mờ như một tấm khăn voan cũ. Nhị ca về đúng lúc mẹ vừa nhóm lửa nấu cơm chiều, trên vai vác một cái giỏ tre nặng, bên trong đầy nấm hương rừng và một xâu cá suối đúng như đã hứa. Cá còn tươi rói, mấy con to bằng ba ngón tay khoẻ, ánh bạc lấp lánh dưới ánh chiều tà. Nhị ca chạy vào nhà, đặt xâu cá xuống trước mặt muội, giọng phồng ra như con gà trống nhỏ khoe chiến tích: “Kiều Kiều nhi coi, nhị ca nói là làm được, xâu cá này to nhất mùa xuân, đủ mẹ kho tương với nướng lá lốt”. Muội cười, đưa ngón tay nhỏ xíu chọc vào bụng con cá to nhất, cảm giác trơn mát nhẹ, mắt mèo con của muội sáng lên hai đốm.
Mẹ đem cá ra bờ ao đánh vảy, rồi kho lên với chút gừng cay và mấy giọt tương đậu nhà tự làm. Mẹ chọn ba con to nhất kho riêng cho tam ca ăn cho đủ sức đọc sách, hai con vừa vừa kho cho cha, còn lại nướng lá lốt cho muội và nhị ca chia nhau. Muội đứng bên cạnh bếp, hít hà mùi cá kho gừng, mùi lá lốt hơ trên than hoa quyện với mùi nếp đang chín từ nồi đất, chưa ăn mà đã thấy no cả bụng. Ta ở kiếp trước ăn không biết bao nhiêu bữa cơm hộp lạnh ngắt trong phòng chế hương, chưa từng có bữa cơm nào ấm áp bằng bữa cơm khoai độn cá suối này. Muội ngồi thụp xuống bên chân mẹ, nắm tay mẹ đưa lên áp vào má, thầm nhủ ta phải làm sao cho mẹ đừng phải kho ba con cá to nhất riêng cho tam ca nữa, ta phải làm sao cho cả nhà đều được ăn cá to.
Bữa cơm chiều dọn ra bàn tre giữa gian, cả nhà quây quần ngồi trên chiếu cói. Không có đại ca ngồi cùng, chỗ đại ca vẫn để trống, mẹ để một chén cơm và một khúc cá lá lốt vào chỗ đó, coi như dành phần cho đại ca ba ngày sau về. Cha ăn khẽ khàng, thi thoảng gắp một miếng cá kho gừng cho tam ca, dặn: “Ăn cho khoẻ, đầu tháng sáu là muội thi tú tài rồi, không được ốm”. Tam ca gật đầu, giọng dịu như trà ấm: “Cha yên tâm, con sẽ không phụ lòng cha mẹ”. Nhị ca chan cơm với nước cá, ăn hùng hục như một con mèo mướp tham ăn, làm cả nhà cười khan. Muội ngồi trong lòng cha, được cha gắp cho một miếng cá lá lốt to nhất bỏ vào bát, ta nhìn miếng cá đó mà nước mắt suýt rơi vào bát cơm.
Sau bữa cơm, mẹ dọn dẹp bát đĩa, cha ngồi bên bậc thềm đan lại chiếc chiếu cói bị rách góc, tam ca lại về góc nhà đọc sách bên đèn dầu leo lét, nhị ca chạy ra sân chơi trốn tìm với mấy đứa trẻ hàng xóm. Muội ngồi trong lòng cha, hai tay ôm chặt cổ cha, đầu tựa vào vai cha, nghe tim cha đập thình thịch dưới lớp áo bố, đều đặn như tiếng gõ nhịp của cuộc sống nhà nghèo. Cha khẽ vuốt tóc muội, không nói gì, chỉ khe khẽ hát một câu ru cũ mà cha thường hát ru đại ca hồi đại ca mới lọt lòng: “À ơi, con cò bay lả bay la, bay từ cửa phủ, bay ra cánh đồng”. Muội áp má vào ngực cha, nghe câu ru mộc mạc, thầm nhủ trong lòng, kiếp trước ta hai mươi lăm năm chưa từng có ai ru ta bằng câu ru cũ, kiếp này ta chỉ mới sáu tuổi mà đã có cả một khúc ru.
Ta thầm quyết trong đầu, chảy làng gặp lượng, kiếp này ta phải bắt đầu chế đồ bán ngay. Không thể chỉ dựa vào bàn tay chai của cha, vào đôi vai thô của đại ca, vào giỏ tre nhỏ của nhị ca. Ta có không gian tâm linh, có cả một dàn giá gỗ chứa hạt giống hương liệu quý, có nửa cánh bướm ngọc nói với ta hai chữ “của con”. Ta phải khởi nghiệp bằng chính đôi tay bé xíu này, từ ngày mai, không thể trì hoãn. Muội hôn khẽ lên má cha rồi tuột xuống, nói với cha bằng giọng lí nhí: “Cha ơi, muội đi ngủ, tối nay muội mộng chắc còn thấy khoảnh vườn nhiều hạt giống hương thơm nữa đấy”. Cha bật cười, xoa đầu muội: “Vậy con bé cha mộng ngoan, mai mộng có gì đẹp thì kể cha nghe”.
Muội chào cha mẹ và tam ca xong, chui vào chăn bông vá bảy chỗ trong buồng, nằm im nghe tiếng đèn dầu ngoài gian giữa reo lép bép, tiếng cha đan chiếu cói, tiếng mẹ rửa bát ngoài giếng, tiếng tam ca lật trang sách khẽ khàng. Chờ đến khi cả nhà đều đã tắt đèn, chỉ còn ánh trăng khuyết chiếu qua khe cửa buồng làm sáng một sọc vàng nhạt trên chăn, muội mới nhẹ nhàng ngồi dậy, khép mí mắt, tưởng tượng khe cửa bếp đèn dầu ấm hé mở. Một tiếng “cách” rất khẽ vang lên trong đầu, muội bước vào không gian tâm linh.
Khoảnh vườn ba sào vẫn nguyên như trưa qua, ánh sáng vàng dịu dàng vẫn phủ đều, con suối nhỏ vẫn róc rách chảy qua khóm cỏ ba lá xanh mướt như mèo con vừa tắm khô lông. Muội đi thẳng ra bàn đá cuối vườn, đặt hai lòng bàn tay lên nắp hộp gỗ khảm trai, hít một hơi thật sâu, mới nâng nắp lên. Nửa cánh bướm ngọc lam vẫn nằm ngay ngắn giữa lớp lụa trắng đã ngả vàng, mờ mờ ấm áp như một tia đèn dầu vừa châm còn thơm mùi mỡ. Muội nâng cánh bướm lên, hôn nhẹ một cái vào ngọc lam, rồi đặt cánh bướm sang một bên, cẩn thận nhấc lớp lụa lót đáy hộp ra.
Bên dưới lớp lụa, ta thấy một tờ giấy vàng ố nằm sát đáy hộp, tờ giấy mỏng như cánh chuồn chuồn nắng gắt, mép giấy đã sờn từng chút một. Muội cẩn thận nhấc tờ giấy lên, đặt lên mặt bàn đá, cúi sát xuống soi dưới ánh sáng vàng dịu của không gian tâm linh. Trên giấy có ba chữ mờ nhạt như tàn khói lò trầm mới nguội, nét mực loãng đến độ phải nheo mắt lắm mới đọc rõ được từng nét. Muội đọc chậm rãi từng chữ một, tim đập càng lúc càng nhanh: “Nến trầm hương”.
Ba chữ ấy hiện lên trên tờ giấy vàng ố như ba đốm than nhỏ vừa mới tàn, lửa đã lặn nhưng hơi ấm vẫn còn. Muội đặt ngón tay út lên nét mực loãng, chạm nhẹ, ngón tay bỗng ấm sực như vừa hơ qua chậu than hồng, một luồng hơi nóng dịu chạy dọc theo cánh tay, chạm vào ngực, dừng lại đúng chỗ trái tim. Trong đầu muội, một loạt hình ảnh chợt lướt qua như những cánh bướm bay vụt: một khối trầm hương vụn màu nâu đỏ đang được nghiền trên đá, một cuộn bấc lụa nhỏ đang được quấn quanh que tre, một mảnh sáp ong vàng đang tan chảy trên bếp than, và cuối cùng là hình ảnh một cây nến trầm hương cháy đêm trong túp lều tranh, ánh sáng vàng ấm phủ khắp gian nhà đủ cho cha mẹ và ba huynh cùng ngủ ngon một giấc không dột.
Ta ngồi bên bàn đá, tim đập thình thịch dưới lớp áo vải thô, không phải sợ, không phải hoang mang, mà là một loại hưng phấn mới lần đầu tiên trong hai kiếp người ta được cảm nhận. Nến trầm hương, ba chữ ấy chính là chìa khoá đầu tiên. Kiếp trước ta bốn năm học nghề chế hương, cũng đã thử qua một hai lần đổ nến trầm, đủ kinh nghiệm để bắt đầu từ hôm nay. Muội ngồi thẳng lưng, khẽ mím môi, thầm hứa với tờ giấy vàng ố trên bàn đá, hứa với nửa cánh bướm ngọc trong hộp gỗ, hứa với cả người mẹ vô danh nào đó đã để lại hai chữ “của con”: ngày mai, ta sẽ xin mẹ nửa lượng sáp ong, sẽ đun trên bếp than sau nhà, sẽ trộn trầm hương vụn, sẽ quấn bấc lụa, sẽ đổ khuôn tre. Cây nến trầm hương đầu tiên sẽ cháy trong túp lều tranh nhà mình trước, sẽ đủ ấm cho đêm đầu tiên cả nhà cùng ngồi quanh bàn tre không phải rùng mình vì sương lạnh.
Muội gấp lại tờ giấy vàng ố, cẩn thận đặt trở lại đáy hộp, phủ lớp lụa trắng lên trên, đặt nửa cánh bướm ngọc ngay ngắn ở giữa, rồi đóng nắp hộp gỗ khảm trai. Trước khi rời không gian, muội quay đầu nhìn lại dàn giá gỗ dựng ba tầng, đọc lại tên từng hũ sành đựng hạt giống hương liệu: bạch chỉ, đinh hương, đàn hương, nhũ hương, hoắc hương, cam tùng, an tức, giáng chân, xạ hương thảo, trầm hương thuỷ. Trong đầu ta lẩm nhẩm hoạch định, ngày mai bắt đầu bằng trầm hương thuỷ, ba ngày sau khi đại ca về nhất định phải có cây nến đầu tiên cháy đêm dưới mái tranh, đại ca đi rẫy nặng nhọc thế, đại ca xứng đáng có một đêm ngủ trong ánh nến ấm chứ không phải trong bóng đèn dầu leo lét.
Muội nhắm mắt, tưởng tượng khe cửa bếp khép lại. Một tiếng “cách” rất khẽ nữa vang lên, muội mở mắt, thấy mình vẫn ngồi trên chiếu cói trong buồng, chăn bông vá bảy chỗ còn quàng trên vai, ánh trăng khuyết vẫn hắt một sọc vàng nhạt qua khe cửa. Ngoài kia, trong bếp cạnh, mẹ đã ngủ say, tiếng thở đều đều truyền qua bức vách nứa mỏng. Xa hơn, ngoài lối mòn ra bờ ruộng nhà ông Trịnh, đại ca đang ngủ trong túp lều rẫy dựng tạm bằng tre và lá cọ, chắc đang đưa tay sờ qua lớp áo bố tìm cục đường phèn muội giấu vào ngực áo, chắc đang mỉm cười trong giấc mơ vì thấy con em bé bỏng của mình mai mốt sẽ có đôi hài mới.
Muội áp má vào gối bông cứng, khẽ mỉm cười. Trong lòng bàn tay muội, dư âm ấm của nửa cánh bướm ngọc vẫn còn, nét chữ “nến trầm hương” trên tờ giấy vàng ố vẫn hiện lên rõ mồn một trong đầu như ba đốm than nhỏ chưa tắt. Ta hai mươi lăm năm cô độc, đêm nay lần đầu tiên nằm ngủ với ba chữ nóng hổi trên môi, ba chữ đó không phải là “của con” nữa, mà là “nến trầm hương”, ba chữ khởi nghiệp đầu tiên trong hai kiếp người của ta. Muội khép mắt, giấc ngủ tràn xuống nhẹ như đường phèn tan trong bát chè nóng, và trong giấc mơ, muội thấy cả nhà mình quây quần bên một cây nến trầm hương lớn, ánh sáng vàng phủ đầy gian nhà tranh không còn một chỗ dột nào.