Muội Là Công Chúa Nhà Nghèo
Chương 11: Tam Ca Vào Thi
Đầu tháng sáu, trời Đào Khê sáng dậy trong tiếng ve mới ra đàn, sương sớm còn đọng thành hạt li ti trên lá đào già bảy mươi tuổi trước sân, cứ mỗi cơn gió khẽ lay là lại rơi lộp bộp xuống nền đất nện.
Muội ngồi bó gối trên bậu cửa gỗ mun đã mòn nhẵn, hai bàn chân nhỏ xíu xỏ đôi hài vải mẹ khâu tay còn thơm mùi vải mới. Trong nhà, đèn dầu leo lét vẫn chưa tắt dù trời đã hoe hoe rạng, ánh vàng ấm hắt lên khuôn mặt mẹ đang cúi mình bên rương gỗ, tay mẹ gấp gấp mở mở một cái áo bố nâu mà tam ca sẽ mặc lên trấn thi.
Mẹ đã gấp lại tấm áo ấy đúng bảy lần. Muội đếm rõ từng lần. Lần thứ nhất mẹ vuốt phẳng vai áo, xong lại thấy chỗ cổ áo có sợi chỉ bung ra, mẹ mở ra khâu vá lại. Lần thứ hai mẹ gấp gọn hai tay áo vào giữa, xong lại sợ nhỡ đi đường gấp thành nếp hằn, mẹ mở ra vuốt phẳng lần nữa. Cứ như thế bảy lần liền, hai bàn tay mẹ chai sạm run run, khoé mắt mẹ lại hoe hoe đỏ.
Ta thầm thở dài trong lòng. Kiếp trước hai mươi lăm năm, ta lớn lên trong cô nhi viện, chưa từng có ai gấp áo cho ta nhiều lần đến thế. Mỗi bận đi thi hết cấp một, cấp hai, đại học, ta chỉ có mấy bộ đồng phục xếp trong ba lô cũ, ai gọi thì tự xách đi thi. Nay nhìn mẹ gấp áo bảy lần, muội thấy nước mắt cứ tự nhiên dâng lên khoé, phải cắn môi thật khẽ mới không rơi ra thành giọt.
“Cha ơi,” muội quay đầu gọi khẽ, “tam ca dậy chưa?”
Cha đang ngồi ở góc bếp, tay khều mấy hòn than hồng, đầu ngoảnh lại nhìn muội cười hiền:
“Tam ca dậy từ canh tư, đang ở buồng ngoài ôn nốt mấy bài phú. Kiều Kiều nhi ra hỏi han tam ca một câu đi, đi thi đường xa, có muội tiễn tam ca vui.”
Muội gật đầu, ngoan ngoãn tụt xuống bậu cửa, bàn chân bé xíu bước qua nền gạch mẻ nghe lộp cộp. Buồng ngoài thực ra chỉ là một góc kê bàn tre có tấm cót ngăn, tam ca đang ngồi khoanh gối trên chiếc chiếu lác đã sờn viền, lưng thẳng như cây tre non giữa vườn, tay cầm quyển sách mỏng lem bụi mực đen.
Tam ca mười bốn tuổi. Dáng người tam ca gầy như cành liễu mới ra búp, cổ tay cổ chân đều mảnh, nhưng ánh mắt tam ca sáng như sao mai giữa trời tháng sáu. Muội đứng ở cửa buồng nhìn tam ca một lúc lâu, tam ca chưa hay biết, chỉ mê mải đọc, môi khẽ mấp máy theo từng dòng chữ.
Ta trong lòng thầm ngẫm, tam ca thực ra không giống nhị ca hay đại ca. Đại ca vai rộng như núi, tay đầy chai sạm vì cày cuốc; nhị ca người thấp chắc, chân đi rừng như con mang non, gương mặt sạm nắng. Chỉ có tam ca da trắng như giấy dó, tay dài, ngón thon, cầm cây bút lông là hợp hơn cầm cái cuốc. Muội đã để ý điều này từ mấy tháng trước, nhưng cha mẹ chẳng bao giờ lấy làm lạ, chỉ khoe với hàng xóm rằng con Vân nhà tôi trời sinh cầm bút, chảy làng gặp lượng.
“Tam ca,” muội gọi khẽ.
Tam ca giật mình ngước lên, thấy muội đứng ở cửa thì đôi mắt liền dịu lại như nước trà ấm mới rót. Tam ca gấp sách, vẫy tay:
“Kiều Kiều nhi lại đây với tam ca.”
Muội chạy tới, ngồi tót vào lòng tam ca. Áo tam ca mặc trong nhà chỉ là áo bố thô, nhưng có mùi giấy mực rất đặc trưng, mùi mà kiếp trước ta hay ngửi trong thư viện cũ ở cô nhi viện, ngan ngát, ấm áp, gợi ra một cảm giác an tâm khó gọi thành tên.
“Tam ca đi đường mười lăm dặm có xa không?” muội hỏi.
“Không xa lắm,” tam ca đáp, giọng dịu như trà ấm, “đi từ giờ Thìn tới quá trưa là tới trấn. Có bác Phú đánh xe bò chở tam ca cùng ba đứa nữa trong thôn cùng đi thi, chia mỗi người bảy đồng lộ phí.”
“Vậy tam ca có mang khoai không?”
“Mẹ đã gói khoai lang nướng, còn nhét thêm hai củ hành nướng chống nôn nữa. Tam ca no cả buổi.”
Muội cúi đầu nhìn tay tam ca đang đặt trên đầu gối muội. Bàn tay tam ca thon dài, đốt ngón thẳng tắp, các đầu ngón hơi ửng đỏ vì thức khuya đọc sách. Muội chợt nhớ đến bàn tay đại ca chai sạm nứt nẻ, nhớ đến bàn tay nhị ca thô ráp rám nắng. Bàn tay tam ca… khác quá. Ta trong lòng nhíu mày, chuyện này rồi phải suy ngẫm cho tường tận.
“Tam ca đợi muội một chút, muội đi lấy quà tặng tam ca.”
Muội nhảy khỏi lòng tam ca, chạy vào gian trong. Cái hộp gỗ khảm trai của muội đã cất dưới gối bông từ ba đêm trước, muội đã lén chuẩn bị mọi thứ trong không gian tâm linh từ lâu. Trước khi tam ca đi thi bảy ngày, muội đã ngồi cả ngày trong khu vườn nhỏ dưới gốc đào con của không gian, dùng dao tre cắt một cây nến trầm hương cỡ nhỏ chỉ bằng ngón tay út, đủ để đốt trong ba đêm chong đèn. Nến nhỏ mà mùi đậm, không quá gắt, hợp với người đọc sách. Muội còn tự tay khắc một cái kẹp tóc bướm ngọc lam bé xíu, cánh mỏng như sương sớm, bọc trong khăn tay lụa hồng nhạt.
Muội gói cả hai vật vào chung một cái bao vải, buộc dây gai kín. Xong xuôi mới ôm bao vải chạy về buồng ngoài, đặt vào lòng tam ca.
“Tam ca, cái này muội tặng tam ca.”
Tam ca mở bao vải, thấy cây nến trầm hương nhỏ xíu, khẽ hít vào một hơi, đôi mắt lộ vẻ hài lòng. Tam ca lại thấy cái kẹp tóc bướm ngọc lam, tay hơi khựng một nhịp, ngước lên nhìn muội, giọng có chút ngạc nhiên:
“Kẹp tóc thì tam ca dùng làm gì hả Kiều Kiều nhi?”
Muội cười khì, hai lúm đồng tiền lún vào má:
“Tam ca cầm để nhớ nhà. Đêm khuya nào cảm thấy cô đơn, tam ca lấy ra ngắm, thấy cánh bướm ngọc là biết có muội ở đây đợi tam ca về.”
Tam ca nghe câu ấy, hai bên khoé mắt bỗng hoe hoe. Tam ca cúi xuống, xoa xoa đầu muội, giọng đã có phần khản đục:
“Kiều Kiều nhi ngoan quá. Tam ca đi rồi, muội đừng ra vườn một mình, gốc đào già rễ trồi lên nhiều chỗ, muội chân bé dễ vấp. Có gì thì tìm đại ca, đại ca ở đồng về là muội cứ chạy đi tìm, nghe chưa.”
Muội gật đầu, gật đến độ chóp tóc con lay lư như bông cỏ may. Bàn tay tam ca đặt trên đỉnh đầu muội ấm áp, mà lại có gì đó nghèn nghẹn, như thể chàng biết rằng đi lần này, nhà cửa yên bình nữa hay không, chàng không dám chắc.
Bên ngoài, tiếng mẹ đã gọi tam ca xuống ăn bát cháo sáng cuối cùng trước khi lên đường.
Cả nhà quây quần bên mâm gỗ nhẵn thín. Mẹ nấu nồi cháo trắng bỏ thêm ba lát gừng non và một chút muối, hôm nay còn dằn thêm vào tô của tam ca nửa cái trứng gà luộc đúng bằng lòng bàn tay. Cả tháng qua nhờ hai đơn hàng lớn của Bùi công tử, nhà đã có bạc mua gạo trắng, mua muối, mua cả ít mắm cá lành lặn, nhưng mẹ vẫn dè sẻn, chỉ dám nêm chút ít, sợ hoang phí phúc đức.
Cha bưng bát cháo ra ngoài sân, rót ra một chén nhỏ đặt trên bàn thờ tổ tiên. Cha thắp một cây nhang, khấn khẽ mà giọng run:
“Ơn tổ tiên phù hộ, cho thằng Vân nhà con đi thi lần này bình an, đầu bút xuôi mực, tay đề đúng vế. Chỉ cần nó không đau ốm giữa đường, không sốt cao ban đêm, dù đỗ hay trượt cha mẹ cũng bằng lòng.”
Muội đứng nép sau lưng cha, hai tay chắp trước ngực, cúi đầu khấn theo. Trong lòng ta chợt thấy nao, kiếp trước ta đi thi cũng chưa từng có ai khấn tổ tiên cho ta thế này. Muội thầm nói với tổ tiên nhà Trần, ông bà nội xin hãy phù hộ tam ca, phù hộ cả cái bàn tay thon dài kia đề mực thật ngay, thật đẹp, thật đâu ra đấy.
Xong xuôi khấn vái, cha lấy trong ống trúc treo trên vách ra một xâu tiền đồng chỉ có ba mươi đồng, xâu lại bằng dây gai mỏng. Cha ngập ngừng một chút rồi lôi từ trong túi vải bên hông ra thêm mươi đồng nữa, cộng lại đủ nửa xâu, đưa vào tay tam ca:
“Vân nhi, hôm qua cha bán một cây nến của Kiều Kiều nhi cho bà Đinh nhà kế bên đầu chợ Đào Khê, được bốn mươi đồng, cha đưa hết cho con làm lộ phí. Lên trấn, ăn ở phải giữ mình, đừng ăn hàng rong nào lạ, đừng uống nước giếng chưa hỏi rõ, đêm ngủ trọ phải cài then cẩn thận.”
Tam ca cầm xâu tiền, tay hơi run. Xâu tiền không nặng, nhưng trong đó là nửa tháng cha cong lưng cày ruộng thuê, cộng thêm một cây nến muội đun bấc lụa trong bếp than nửa đêm. Tam ca cúi đầu, giọng nhỏ như muỗi:
“Con biết. Cha đừng lo, con đi rồi con về, không phí một đồng nào.”
Cha ừ một tiếng rất khẽ, rồi quay đi vơ vội mảnh khăn nâu lau mắt.
Mẹ đứng ở bậu cửa, hai tay xoắn lấy vạt áo bố. Mẹ đưa cho tam ca cái tay nải đã gói ghém từ nửa đêm, bên trong có hai bộ áo bố (một bộ đã gấp bảy lần), một đôi hài vải mới, gói khoai lang nướng, hai củ hành nướng, một hũ tương vừng nhỏ để chấm cơm ngủ trọ, và một cái áo ấm mỏng mẹ đan bằng chỉ gai từ mùa đông năm ngoái, đề phòng đêm sương trấn Thanh Châu.
“Vân nhi,” mẹ nói, giọng cứ nghèn nghẹn như hạt cơm vướng cuống họng, “đi thi con nhớ, mẹ không cần con đỗ, mẹ chỉ cần con về nguyên vẹn. Đỗ thì mẹ mừng, không đỗ thì mai kia ra vườn cha còn cày, chả sao. Nghe rõ chưa?”
Tam ca nhận tay nải, khẽ dạ một tiếng. Muội thấy đôi vai gầy của tam ca run lên một cái. Ta thầm cắn môi, chỉ đứng bên cạnh cha, không dám mở miệng khuyến khích thêm câu gì, sợ nói thêm là mẹ khóc oà mất.
Đại ca đứng ở cửa, hai tay cầm cái đòn gánh nhỏ chuẩn bị đưa tam ca ra tận đầu ngõ chỗ xe bò bác Phú đợi. Nhị ca bên bếp còn đang gói thêm mấy củ khoai lang khô để tam ca ăn dọc đường, tay nhị ca xù xì mà gói khoai lại kín kẽ như gói bánh chưng ngày tết.
“Nhị ca cho tam đệ mấy củ này, ăn dặm giữa đường,” nhị ca đưa tay chìa gói khoai, giọng cộc cộc mà mắt lại dịu, “ăn không có vị đâu, nhưng bụng đói thì đường xa cứ như dài gấp đôi.”
Tam ca đón lấy, đút vào tay nải, khẽ khẽ gật đầu. Ba huynh em nhà Trần chưa bao giờ nói với nhau nhiều lời hoa mỹ, nhưng trong cái cách nhị ca gói khoai và đại ca cầm đòn gánh, muội thấy một thứ tình còn ấm hơn cả cháo trắng gừng non.
Trời đã sáng hẳn. Sương trên lá đào tan bớt, chỉ còn vài giọt cuối cùng lấp lánh như mảnh ngọc lam vụn. Con mèo con nhà bà hàng xóm không biết từ lúc nào đã trèo lên bờ rào, hai mắt tròn xoe nhìn cả nhà Trần bịn rịn, đuôi ngoe nguẩy như biết có chuyện quan trọng.
Cha khoác áo bố ngoài, dắt tay tam ca. Mẹ theo ra tới bậu cửa thì dừng lại, không dám đi ra ngõ, chỉ đứng đấy, một tay bấu chặt vào cột nhà. Muội biết mẹ sợ đi ra ngõ rồi lỡ mà thấy tam ca leo lên xe bò là mẹ khóc oà mất, làm tam ca nao lòng.
“Cha ơi, muội cũng ra ngõ.”
Muội chạy theo cha, đại ca, nhị ca và tam ca. Bốn người đàn ông của nhà Trần đi trước, muội đi sau cùng, cái bóng bé xíu in xuống nền đất nện. Ra tới đầu ngõ, xe bò bác Phú đã đợi, ba người bạn cùng đi thi của tam ca cũng đã ngồi trên xe, tay ai cũng cầm ống trúc lồng giấy tờ, mặt ai cũng lo âu.
Bác Phú thấy nhà Trần liền cười lớn:
“Ối chao, cả nhà tiễn thằng Vân nhi lên trấn kìa. Kìa Trần đại ca, yên tâm, bác chở nó về đến ngõ nguyên vẹn, không sứt một cái móng tay.”
Cha cười hiền, cúi đầu cảm ơn bác Phú. Tam ca đặt tay nải lên xe, quay lại ôm cha một cái, ôm đại ca một cái, ôm nhị ca một cái. Đến muội, tam ca cúi xuống, hai tay dài choàng qua vai muội, giọng thầm thì bên tai:
“Kiều Kiều nhi, tam ca đi rồi, ở nhà nghe lời cha mẹ, đừng dám bới đất đào cây một mình. Có chuyện gì mà đại ca không giải quyết được, muội cầm cái ngọc bội của Bùi công tử cho hôm nọ, đưa cho cha bảo cha lên trấn tìm cửa hàng Bùi Ký. Đừng tự mình gánh, nghe chưa?”
Muội gật đầu, gật đến ngoẹo cả cổ. Ta thầm ngạc nhiên, tam ca mười bốn tuổi mà lại lo xa đến thế, nhớ cả chi tiết ngọc bội Bùi công tử để lại. Chàng đi thi tú tài mà lòng còn treo cả cái nhà lợp cỏ tranh dột này, tính tình trọng nghĩa quả tình không giống một đứa trẻ nông thôn bình thường.
Xe bò lăn bánh. Tam ca ngồi trên xe, ngoái đầu lại vẫy vẫy. Cha nắm chặt tay muội, cả cha lẫn muội đều đứng trên đầu ngõ vẫy tay theo, cho tới khi xe bò khuất sau khúc quanh có bụi tre gai.
Đại ca thở dài đánh sượt một cái, vác đòn gánh trên vai, giọng cộc:
“Về thôi cha. Sáng nay con phải ra bãi cắt cỏ voi cho trâu.”
Nhị ca gật đầu, đi lên rừng lấy nấm sớm. Cha dắt muội quay về, cứ đi một bước lại thở một hơi rất dài, không nói câu nào. Ta thầm nghĩ, cha đi cày ruộng cực nhọc bao năm không thở dài, hôm nay tam ca đi thi mà cha thở dài đến vậy, chắc trong lòng cha cũng nhớ, cũng lo lắm.
Trở vào nhà, mẹ đã ngồi tựa vào cột, hai bàn tay chai xoắn vạt áo. Thấy cha con muội về, mẹ vội đứng dậy chạy vào bếp làm ra vẻ bận rộn, nhưng muội thoáng thấy trên má mẹ có một vệt nước mắt chưa lau hết.
Muội chạy ôm lấy chân mẹ, ngước mặt lên, hai lúm đồng tiền chớp chớp:
“Mẹ ơi, muội đói.”
Mẹ giật mình, cúi xuống nhấc muội lên đặt vào lòng, hai mắt vẫn còn hoe mà miệng lại cười:
“Kiều Kiều nhi của mẹ, mẹ nấu cháo lại cho, thêm nửa cái trứng, ăn đi cho ấm bụng.”
Ta thầm cười khì trong lòng. Kiếp trước ta lớn lên trong cô nhi viện, biết rõ mấy chiêu này lắm. Người lớn buồn thì mình phải giả bộ đói, phải giả bộ ngã, phải giả bộ khóc nhè, để họ có việc mà làm, có tay chân mà bận, thì nỗi buồn nó không đọng lại đến rưng rưng. Kiến tha lâu đầy tổ, thương yêu ai thì phải biết cách chăm cho vui, không chỉ ngồi buồn không.
Cả buổi sáng nhà thiếu tam ca, không khí như thiếu mất một mùi mực khô quen thuộc. Cha đi ra vườn xới đất trồng ớt, đại ca cắt cỏ voi, nhị ca chưa về, mẹ ngồi bên bếp vá lại cái áo bố cũ của tam ca (nói là để tam ca về mặc, nhưng thực ra là để tay có việc mà bận). Muội ngồi cạnh mẹ, cầm một sợi chỉ, giả bộ vụng về xâu kim, cứ xâu hoài không được, mẹ phải cúi đầu chỉ cho muội cách vê chỉ, thế là mẹ quên luôn nỗi bịn rịn.
Trưa nắng lên, muội trốn ra góc sân, ngồi dưới gốc đào già bảy mươi tuổi. Cây đào cành sà thấp, tán rộng, che cho muội một khoảnh mát. Muội nhắm mắt, đặt tay lên đùi, khẽ gọi cửa của không gian tâm linh.
Đường ánh sáng nhỏ trong lòng bàn tay muội loé lên như đèn dầu ấm. Muội bước vào.
Khu vườn ba sào bên trong không gian yên tĩnh như tờ. Suối con vẫn chảy róc rách qua khe đá cuội, giá gỗ đầy hạt giống hương liệu đứng yên bên bàn đá, gốc đào con giữa vườn nay đã cao hơn muội một cái đầu, cành lá xanh mướt. Muội ngồi xuống bên bàn đá, hai tay đặt cẩn thận trên chiếc hộp gỗ khảm trai như đặt tay lên da mẹ.
Muội mở nắp hộp. Nửa cái kẹp tóc bướm ngọc lam vẫn nằm im trên lớp lụa xanh úa. Bên cạnh là tờ giấy vàng ố mà mấy tháng trước lần đầu muội mở ra đã thấy ba chữ mờ nhạt “nến trầm hương”. Kể từ đó muội đã đọc đi đọc lại tờ giấy này rất nhiều lần, ngoài ba chữ ấy chưa từng thấy thêm dòng nào.
Nhưng đêm nay khi muội cầm tờ giấy lên soi gần lại ánh sáng ấm áp của không gian, muội bỗng nhìn thấy giữa lớp giấy vàng ố, ngay bên dưới ba chữ “nến trầm hương”, lộ ra một dòng chữ nhỏ như đầu kim, nét mực lợt như tro nguội. Tim muội đập thình thịch, ta trong lòng cũng bừng tỉnh cả cơn buồn ngủ ban trưa. Sao dòng chữ này bao lâu nay muội không thấy? Sao hôm tam ca vừa rời khỏi nhà, chữ lại tự lộ ra?
Muội cúi sát gần hơn, hơi thở đọng lại thành sương trên mặt giấy. Từng chữ, từng chữ, hiện rõ dần dưới ánh sáng ấm của không gian:
“Song Điệp phân đôi, một cánh nằm trong tay Trần gia hôm nay, một cánh nằm trong tay đứa trẻ đã bị đánh tráo mười bốn năm trước.”
Muội ngồi phịch xuống bàn đá, tay run run buông rơi tờ giấy. Ta trong lòng vang lên một tiếng “à” rất khẽ, nhưng cả người muội lại lạnh toát như bị nhúng vào chum nước cuối đông. Đứa trẻ đã bị đánh tráo mười bốn năm trước… đứa trẻ đã bị đánh tráo mười bốn năm trước…
Muội nhìn ra cửa không gian, nhìn về hướng đầu ngõ nơi sáng nay xe bò bác Phú vừa lăn bánh, mang tam ca đi mất. Bàn tay thon dài của tam ca, ánh mắt sáng như sao mai của tam ca, làn da trắng như giấy dó của tam ca, cây bút gỗ ngắn tam ca cầm buổi sáng khi ngồi đọc sách. Muội nhớ hết, muội nhớ từng chi tiết.
Và trong đầu muội, một câu hỏi khẽ đến nỗi ngay cả ta hai mươi lăm tuổi cũng chưa dám gọi thành lời:
Đứa trẻ trong tay Trần gia mười bốn năm nay, có phải chính là tam ca của muội, Trần Thanh Vân?
Bên ngoài không gian, tiếng ve trưa vẫn ran ran trên cành đào già bảy mươi tuổi. Con mèo con nhà hàng xóm đã ngủ khoanh trên bờ rào. Mẹ đang nấu nồi cháo mới cho bữa trưa, tay mẹ khuấy đũa trên bếp than, chưa hay biết gì.
Muội nắm chặt nửa cánh bướm ngọc lam trong lòng bàn tay, hơi ấm truyền vào từng ngón, mà nước mắt lại lăn xuống hai bên má. Cả kiếp trước hai mươi lăm năm ta cô độc mồ côi, kiếp này ta được cả một nhà đông đúc nâng như nâng trứng, thế mà bây giờ ta lại phát hiện ra: có thể trong nhà này, còn một người khác cũng đang mồ côi mà chưa hay biết.
Nếu tam ca thật là con của một nhà khác, thì mai kia tam ca đỗ đạt về, tam ca có còn gọi cha một tiếng cha, gọi mẹ một tiếng mẹ nữa hay không?
Muội cắn môi, đặt tờ giấy vàng ố vào lại hộp, khép nắp, để hộp gỗ khảm trai lên bàn đá. Ta trong lòng thầm nhủ, chuyện này muội chưa được nói với ai, kể cả cha, kể cả mẹ, kể cả đại ca. Chỉ đợi tam ca đi thi về, muội phải lựa lúc đúng, tìm cách hỏi cho ra ngành ngọn.
Muội bước ra khỏi không gian, mở mắt dưới gốc đào. Trời trưa hoe hoe nắng nhẹ, mẹ đang gọi muội vào ăn cơm. Muội đứng dậy, phủi đất trên vạt áo bố, chạy về phía cửa bếp.
“Muội tới đây mẹ ơi.”
Giọng muội vẫn trong trẻo như đường phèn tan trong cháo. Nhưng trong lòng ta, một hạt mưa vừa rơi xuống ao lặng, khẽ thôi, mà lan ra khắp mặt nước.