Muội Là Công Chúa Nhà Nghèo
Chương 13: Đêm Mưa Có Người
Trời chưa tối hẳn mà mây đã đen kịt như đáy chảo gang, gió từ sườn núi thổi ù ù qua đám tre trước ngõ, nghe mà da gà nổi lấm tấm. Muội ngồi trong bếp, tay khẽ vuốt ve tấm ngọc bội Bùi công tử để lại, thấy mặt ngọc lành lạnh mà lòng lại ấm ran như vừa uống một chén nước đường phèn.
(ta trong lòng thầm nghĩ: cái người đó, ban ngày mặt lạnh tanh, đêm về lại đưa cho muội cả một cục vàng, đúng là kỳ quái)
Mẹ từ sân bước vội vào, tay vẫn còn nắm chặt cái nia đựng mấy trái ớt phơi dở, giọng lo lắng: “Kiều Kiều, mau vào trong, mưa lớn sắp trút xuống rồi.” Muội “dạ” một tiếng, nhét ngọc bội vào túi áo bên hông, chạy theo mẹ vào gian giữa.
Chỉ chờ có thế, mưa đổ ập xuống, tiếng nước dội trên mái tranh nghe rào rào, như có ai đứng trên đó vãi cả một sọt đậu đen. Muội vừa đứng vững chỗ, đã nghe “tí tách, tí tách” ngay trên đầu, ngẩng lên thì thấy một giọt nước to bằng đầu đũa rơi thẳng xuống trán.
Muội đưa tay quệt trán, cười cười: “Mẹ ơi, nhà mình lại có thêm một cái ao con rồi.”
Mẹ ngước nhìn mái, thở dài đến là nhẹ: “Mưa hôm nay lớn quá, chỗ dột cũ chưa vá xong đã lòi thêm chỗ mới, đúng là cha con hết ngày ăn ngủ với cái mái tranh này.” Vừa nói, mẹ vừa vội chạy đi lấy cái chậu sành sứt miệng để hứng, xong lại chộp cái nón lá cũ đội lên đầu, ngồi ngay dưới chỗ dột.
Muội nhìn mẹ mà tim thắt lại một nhịp. (ta hai mươi lăm năm ở kiếp trước, chưa từng thấy ai đội nón lá trong nhà chỉ để khỏi bị ướt tóc. Ở đây, mái tranh là mái, nón lá là nón, mà thân người mẹ vẫn cứ mảnh khảnh như hoa lê trước gió)
“Mẹ, để con ngồi thay mẹ, mẹ đi lấy khăn khô lau tóc đi.” Muội chạy lại kéo tay mẹ, giọng ngọt như đường phèn ngâm chanh.
Mẹ vỗ đầu muội, cười khe khẽ: “Cái con mèo con này, mưa dột mà cũng đòi trực. Mẹ ngồi đây được rồi, con vào xem cha với các anh đâu.”
Muội vâng dạ, đẩy tấm phên tre bước ra thềm. Trong sân, cha đang đứng dưới hiên, tay che mắt nhìn lên nóc bếp. Nhị ca Trần Nhị Lâm hai tay ôm cả một mớ lá cọ ướt sũng, đứng bên cạnh, mặt nhăn nhó như vừa ăn phải quả sung sống.
Đại ca Trần Đại Sơn đã leo lên mái từ khi nào, nước mưa quất vào mặt vào lưng, chảy thành dòng xuống lưng áo bã trầu. Muội ngước lên, thấy đại ca dùng chân giữ trên xà tre, hai tay khéo léo lồng từng tấm lá cọ vào chỗ dột, miệng còn hô xuống: “Nhị đệ, đưa thêm ba tấm nữa, chỗ này rộng lắm!”
Nhị ca vội chuyền lên, mà tay run vì lạnh. Muội đứng bên cha, tim đập thình thịch: “Cha, mưa lớn thế này, đại ca ở trên mái nguy hiểm quá.”
Cha cúi xuống, xoa đầu muội, giọng trầm ấm: “Muội nhi đừng lo, đại ca con leo mái từ lúc còn nhỏ hơn con, quen tay rồi. Chỉ là…” Cha ngập ngừng một chút, mắt nhìn về phía tây hướng nhà lão Vương Thái Đường, “chỉ là nhà mình mấy hôm nay có chuyện, cha thấy trong lòng không yên.”
Muội biết cha đang nghĩ tới việc gì. Mấy hôm trước, Bùi công tử đích thân đến nhà đặt hai tá nến trầm hương, ngoài chợ Thanh Châu ai cũng bàn tán. Lão Vương Thái Đường xưa nay coi thôn Đào Khê như đất riêng của mình, nghe tin ắt không để yên.
(ta nghĩ: cha ngoài nom thật thà mà trong lòng thấu đáo lắm. Chỉ là cha vẫn tin vào cái lẽ “ăn ở phải đạo trời không phụ”, còn ta thì hiểu cái lẽ “cây ngay không sợ chết đứng, mà đứng lâu ngoài mưa vẫn ướt”)
Muội định nói gì đó thì trên mái có tiếng đại ca cười to: “Xong rồi! Cha, mẹ, mau thử xem còn dột nữa không!” Cả nhà cùng ngước lên, mưa vẫn đổ ào ào mà chỗ dột mới đã được vá kín, tiếng nước rơi trong gian giữa đã ngớt đi một nửa.
Mẹ từ trong nhà bước ra, hai tay bưng một tô nước gừng nóng còn bốc khói: “Cả nhà mau vào, mẹ nấu nước gừng đường phèn rồi, ai cũng uống một chén cho ấm.”
Đại ca tụt xuống, người ướt như con chuột lụt, mà miệng vẫn cười: “Mẹ nấu nước gừng ạ? Tuyệt vời! Tối nay con làm ba chén!” Nhị ca vẫn còn run, len lén nép vào bên cha, hai tay ôm cái tô nóng sát vào ngực.
Muội bưng chén cho mình, hớp một ngụm, hơi ấm chạy từ cổ họng xuống bụng, lan ra đến cả đầu ngón chân. (ở kiếp trước, ta chưa từng có ai nấu cho một chén nước gừng đường phèn giữa đêm mưa. Bây giờ ta hiểu, thì ra cái ấm của một chén trà nóng có thể làm người ta muốn khóc)
Cả nhà quây lại quanh cái bàn tre trong gian giữa, đèn dầu leo lét trong gió lùa, mà tiếng cười tiếng nói vẫn ấm cả một góc nhà. Muội ngồi lọt thỏm giữa mẹ và đại ca, nắm chặt tay áo mẹ, thấy đêm mưa cũng chẳng còn đáng sợ.
Nói cười một hồi, cả nhà cũng đi ngủ. Muội nằm bên mẹ trên cái giường tre gian trong, nghe mưa vẫn rơi ngoài mái tranh mà mắt lim dim.
Không biết mình ngủ được bao lâu, muội bỗng giật mình tỉnh giấc. Ngoài trời mưa đã ngớt, chỉ còn tí tách trên lá chuối, mà bên tai muội lại nghe rõ mồn một một tiếng động khác. Một tiếng “cạch” rất khẽ, như có gì đó vừa chạm vào cửa gỗ sau bếp.
(ta trợn mắt trong bóng tối, tim đập thình thịch. Ở kiếp trước ta ở cô nhi viện, đêm hôm ai cũng đề phòng trộm chó bắt gà. Cái tiếng “cạch” này ta quá quen rồi, đây không phải mèo hoang, cũng không phải gió)
Muội nhẹ nhàng nhấc tay mẹ ra, khẽ khàng như một con mèo con rón rén xuống giường, không dám thở mạnh. Sương sớm chưa xuống mà lưng muội đã ướt lạnh vì mồ hôi. Muội bước tới gian giữa, khẽ lay vai cha đang ngủ trên cái phản gỗ.
“Cha, cha ơi…” Muội thì thầm sát tai cha.
Cha bừng tỉnh nhưng không ngồi bật dậy, chỉ khẽ mở mắt, hỏi rất nhỏ: “Muội nhi, sao thế?”
“Sau bếp có tiếng động lạ.” Muội nói gọn ba chữ, mà cha đã hiểu ngay.
Cha ngồi dậy, tay khẽ với lấy cái đèn dầu ở đầu phản. Muội chạy sang gian bên gọi đại ca và nhị ca. Đại ca vốn ngủ tỉnh, chỉ cần một cái chạm nhẹ vào cánh tay đã bừng mắt. Nhị ca thì phải muội lay đến ba lần mới lồm cồm bò dậy.
Đại ca không nói một lời, tay vớ ngay cái gậy tre dựng góc nhà. Nhị ca chộp cái liềm cắt cỏ vẫn treo trên vách, mắt còn kèm nhèm. Cha đi trước, tay cầm đèn dầu che gió, ba anh em muội đi sau, cả nhà nhẹ nhàng đi ra phía bếp.
(ta trong lòng vừa hồi hộp vừa buồn cười. Nhà nghèo, vũ khí duy nhất là cái gậy tre với cái liềm, còn ta thì cầm theo cái ngọc bội Bùi công tử… để làm gì thì ta cũng không biết nữa)
Cửa bếp mở hé một khe, gió lạnh lùa vào làm ngọn đèn dầu run bần bật. Cha đưa tay ra hiệu, đại ca bước lên đầu tiên, nhị ca theo sau, cha đi cuối cùng, muội thì được ấn ở phía trong cùng, không cho ra.
“Có ai đó không?” Cha khẽ hô một tiếng.
Trong bóng tối sau bếp, có tiếng “loạt xoạt” như có người vừa lao qua bờ rào. Đại ca hét lên: “Đứng lại!” rồi phóng vụt ra ngoài. Nhị ca hùa theo. Cha giơ đèn cao, ánh sáng chập chờn quét qua khoảng sân sau, không thấy bóng người, chỉ thấy bờ rào tre bên trái rung lắc mạnh.
Muội chạy theo ra, thấy đại ca đã lao đến bờ rào, nhìn sang bên kia. Bên đó là một con đường mòn nhỏ dẫn ra ruộng, tối om như hũ nút, chẳng còn thấy bóng nào.
“Chạy mất rồi.” Đại ca thở phì phò, giọng đầy tức tối. “Nhị đệ, con chạy nhanh hơn ta, sao cũng không đuổi kịp?”
Nhị ca gãi đầu, xấu hổ: “Đại ca, con… con vấp phải khúc củi ở góc bếp, ngã sấp mặt xuống bùn kìa…”
Cả nhà nhìn nhị ca, thấy đúng là mặt mũi lấm lem bùn đất, cha cũng phải phì cười. Muội ôm miệng cười thầm. (ta thấy nhị ca lúc nào cũng như một cục đường phèn hớn hở lăn qua lăn lại, có nhị ca thì đêm hôm căng thẳng cũng dịu đi được mấy phần)
Đại ca đảo mắt một vòng, bỗng “ơ” một tiếng, tay chỉ vào bờ rào tre: “Cha, có cái gì kìa!”
Cha giơ đèn lại gần, muội cũng chen tới xem. Trên một cái gai tre nhọn hoắt, vướng lại một cái khăn tay bằng vải bố mềm, mép còn thêu một đường chỉ xám mảnh. Muội đưa tay cầm lấy, khăn còn hơi âm ấm, hình như người ban nãy vừa lôi ra dùng.
“Cha, muội ngửi thử được không?” Muội hỏi.
Cha gật đầu, mắt nhìn muội đầy tin cậy. Cả nhà đã quen với việc muội có cái mũi thính hơn con chó săn nhà lão Trương đầu thôn.
Muội đưa khăn lên mũi, ngửi khẽ. Một mùi hương ấm ấm, hơi hắc, xen lẫn mùi thảo mộc khô. (ta nhắm mắt lại, trong đầu bật ra ngay lập tức: cỏ ngải, loại cỏ ngải già ngâm rượu để chống ẩm cho hòm thóc, ở thôn Đào Khê này chỉ có mỗi một nhà dùng)
“Cha…” Muội mở mắt, nói khẽ, “mùi cỏ ngải già ngâm rượu. Trong thôn, chỉ có nhà lão Vương Thái Đường mới hay dùng thứ này chống ẩm cho hòm thóc và hòm áo.”
Cha đứng lặng đi một chút, rồi thở dài: “Đúng là lão Vương… Cha đã đoán rồi mà.”
Đại ca nghiến răng, tay siết chặt gậy tre: “Cái lão già đó! Sao dám sai người mò đến nhà mình giữa đêm hôm?”
Nhị ca cũng bực bội: “Cha, sáng mai để con qua nhà lão hỏi tội!”
Cha giơ tay ngăn: “Không được vội. Chưa có bằng chứng gì rõ ràng ngoài cái khăn này. Trước cứ vào nhà xem có bị mất gì không đã.”
Cả nhà kéo nhau vào bếp. Cha giơ đèn cao, quét ánh sáng khắp bốn góc. Thoáng nhìn thì không có gì lạ, nồi vẫn treo trên vách, đũa vẫn cắm trong ống, hũ muối vẫn nắp đậy nguyên xi.
Nhưng muội thì tinh mắt hơn. Cái hộp gỗ đựng nến trầm hương của muội đặt trên cái kệ tre góc bếp, xưa nay muội xếp rất ngay ngắn, mà bây giờ nắp hộp có vẻ hơi lệch đi một chút.
Muội chạy lại, mở nắp hộp ra. (ta nhớ rõ trong lòng: trước khi đi ngủ, ta xếp mười hai cây nến trầm hương thành hai hàng sáu, đầu bấc quay ra ngoài, và một mẩu bấc lụa dài để giữa hộp)
Muội đếm đi đếm lại: “Cha, mất hai cây nến trầm hương, và mẩu bấc lụa cũng không còn nữa.”
Đại ca “à” một tiếng: “Hắn vào lấy trộm nến à? Sao chỉ lấy có hai cây?”
Nhị ca thắc mắc: “Lấy trộm sao không vơ cả hộp cho gọn?”
Muội đứng bên cạnh, tay khẽ vuốt cái hộp gỗ, trong đầu đã hiểu tường tận. (ta hiểu ngay rồi. Lấy hai cây nến thôi, cùng với mẩu bấc lụa, là đủ để một người thợ có nghề tách ra nghiên cứu bí phương. Hai cây là để phân tích hương liệu, một mẩu bấc lụa là để xem tỷ lệ tẩm dầu và cách xoắn tơ. Lão Vương Thái Đường không phải chỉ muốn trộm nến, lão muốn giải bí phương của ta)
Muội ngước nhìn cha, nói khẽ: “Cha, kẻ lấy trộm không phải là kẻ trộm thường. Người thường vào ăn trộm sẽ vơ cả cái hộp, hoặc vơ cả nồi cả bát. Người này chỉ lấy đúng hai cây nến và mẩu bấc lụa, chứng tỏ hắn tới có mục đích rõ ràng. Hắn muốn mang mẫu về, cho thợ phân tích.”
Cha đặt đèn xuống, ngồi phịch xuống cái ghế đẩu, giọng nặng như đá: “Vậy là lão Vương… lão muốn giải bí phương của con để tự làm.”
Đại ca đấm nắm tay vào lòng bàn tay: “Cái lão ăn không được thì muốn hất đổ mâm cơm! Đúng là đồ đê tiện!”
Cả nhà im lặng một hồi lâu. Ngọn đèn dầu chập chờn, hắt bóng cả nhà lên vách bếp, cái bóng đại ca to lớn cứng cỏi, cái bóng cha trầm ngâm, cái bóng nhị ca vẫn còn dính bùn ở cằm, cái bóng của muội thì nhỏ xíu như một quả táo mèo.
(ta đứng nhìn cha, thấy cha già đi trong đêm nay mấy tuổi. Cha xưa nay chỉ cần có bát cơm nóng, nắm rau xanh cho vợ con là mãn nguyện. Bây giờ cha phải đau đầu vì một cái bí phương mà chính cha còn chưa hiểu hết. Ta thấy lòng mình đau như bị ai cấu một cái nhẹ)
Muội đi lại gần cha, kéo tay áo, giọng nhỏ nhẹ: “Cha đừng lo. Muội có cách.”
Cha ngước lên nhìn muội, ánh mắt vừa tin cậy vừa đau xót. Cha muốn nói gì đó, mà nghẹn lại ở trong họng.
Mẹ từ gian trong bước ra, chắc là bị đánh thức bởi tiếng động ban nãy. Mẹ ôm cái áo bông cũ đắp lên vai muội, giọng lo lắng: “Nhà mình có việc gì mà cả nhà không ngủ, đứng trong bếp thế này?”
Cha vắn tắt kể lại, mẹ nghe xong tái mặt, tay chụp lấy vai muội: “Kiều Kiều, con có sao không?” Mẹ nắn từ trên xuống dưới, sờ trán, sờ tay, cứ như sợ muội bị mất đi một miếng da.
Muội cười, ôm cổ mẹ: “Mẹ ơi, muội đâu có sao. Hắn ta đâu có vào tới giường muội, hắn chỉ vào bếp trộm mấy cây nến thôi.”
Mẹ vẫn không yên tâm, ôm muội chặt lấy, giọng run run: “Kẻ nào ác thế, giữa đêm hôm dám mò vào nhà có trẻ nhỏ…”
Đại ca đi tới, vỗ vai mẹ: “Mẹ, có con ở đây, con sẽ không để ai đụng đến muội một sợi tóc.” Nhị ca cũng vỗ ngực: “Có cả con nữa mẹ, con ngủ ngay cửa sau, ai vào là con chém liền!” (nhị ca nói xong còn giơ cái liềm cắt cỏ lên cho khí thế)
Mẹ vừa cười vừa mắng: “Cái thằng này, đêm hôm liềm dao đừng có vẫy vẫy, coi chừng cứa vào chân đấy.”
Cả nhà cười một lúc rồi cũng bàn nhau tính chuyện tiếp theo. Đại ca cho rằng nên sang nhà lão Vương chất vấn cho ra nhẽ. Nhị ca thì đề xuất canh mấy đêm liền bắt tại trận. Cha thì trầm ngâm, nói: “Chuyện này không dễ. Lão Vương có tiền, có quyền, còn cấu kết với tri phủ. Nhà mình gạo còn không đủ, chất vấn cái gì được?”
Muội đứng nghe, trong lòng đã tính toán đâu vào đấy. (ta ở kiếp trước tuy chưa từng va chạm với hào phú nào, nhưng ta hiểu một cái đạo lý xưa nay không đổi: kẻ giàu bắt nạt kẻ nghèo, chỉ có kẻ giàu hơn mới đè xuống được. Nhà ta bây giờ không đủ tay, phải mượn tay người khác)
Muội kéo tay áo cha, thì thầm bên tai: “Cha ơi, muội có cách. Cha có thể cho muội với đại ca sáng mai đi trấn Thanh Châu được không?”
Cha khựng lại: “Đi trấn Thanh Châu giờ này? Để làm gì?”
Muội ghé sát tai cha, giọng nhỏ như tiếng sương sớm rơi trên lá: “Đi tìm Bùi công tử. Hôm trước Bùi công tử tặng muội tấm ngọc bội, dặn có chuyện gì cấp bách thì cầm ngọc đến chợ Thanh Châu, tìm cửa hàng Bùi Ký. Muội thấy chuyện lần này không phải chuyện ăn miếng trả miếng theo lối đường cùng, mà nhà mình phải có người che chở, mới yên được.”
Cha nhìn muội, ánh mắt sâu và lâu. Cha biết muội tuy nhỏ tuổi nhưng đầu óc như cụ già. Từ khi muội biết nói đến bây giờ, muội tính toán chuyện gì cũng nhìn xa hơn cha đến ba bước. Cha nhớ tấm ngọc bội Bùi công tử tặng muội, cha đã cầm ngắm rất kỹ, biết đó không phải là ngọc thường. Người có thể tặng ngọc bội như thế cho một đứa trẻ, không phải là công tử một tiệm hương thường.
(ta thấy cha do dự, tim ta cũng thắt lại. Cha xưa nay không muốn nhờ vả ai, càng không muốn con gái sáu tuổi phải bôn ba đường xá. Nhưng lần này ta biết, không cầu người ngoài thì cả nhà không yên được)
Cha thở dài một hơi rất khẽ, rồi khẽ gật đầu: “Được. Nhưng đại ca con phải đi cùng, không được rời một bước. Cha sẽ cho hai con mượn xe bò của bác Tư đầu ngõ, đi từ sáng sớm, chiều là về được.”
Muội mừng như bắt được vàng, ôm cổ cha: “Cha ơi, muội thương cha nhất!”
Đại ca cũng gật đầu, giọng chắc nịch: “Cha yên tâm. Có con đi, không ai đụng được muội một sợi tóc.”
Nhị ca thì tiếc: “Cha, sao con không được đi? Con cũng muốn xem trấn Thanh Châu!”
Mẹ vỗ đầu nhị ca: “Con ở nhà giúp cha vá lại mái tranh, sáng mai còn phải qua nhà bác Năm mượn thêm ít lá cọ. Ai cũng đi, ai giữ nhà?”
Nhị ca lí nhí “dạ”, tay vẫn không rời cái liềm.
Trời đã bắt đầu sáng dần, mưa cũng đã dứt hẳn. Ngoài sân, tiếng gà nhà ai đã cất tiếng gáy, thanh và trong như sương sớm vừa rơi. Muội ngước nhìn ra cửa sổ, thấy chân trời hửng lên một vệt sáng mờ, cả gian bếp cũng bớt tối.
(ta hít một hơi thật sâu. Đêm nay là đêm dài nhất từ khi ta xuyên đến thân thể này, mà cũng là đêm ấm nhất. Không phải vì trời không lạnh, mà vì cả nhà đứng bên nhau, dựa vào nhau, không ai buông ai)
Mẹ đi nhóm lửa nấu cháo sáng, đại ca đi ra sân xem xét bờ rào bị hỏng, nhị ca theo cha kiểm tra lại cửa bếp. Muội thì lại ngồi bên cái hộp gỗ đựng nến, cẩn thận sắp lại từng cây.
Muội đưa tay vào túi áo, nắm chặt tấm ngọc bội. Ngọc bội mát lạnh mà lòng muội thì ấm. (ta không biết Bùi công tử có ngờ tới đêm nay không, mà tấm ngọc bội chàng đưa lại đến kịp lúc thế. Trong lòng ta lại nhớ tới cái nét cười của chàng lúc đưa ngọc, cái nét cười nhẹ như hoa lê rụng xuống vai áo, không kịp phủi đi)
Muội lắc đầu, xua đi cái ý nghĩ vẩn vơ, tự nhắc mình: bây giờ chưa phải lúc nghĩ mấy chuyện linh tinh, việc quan trọng là sáng mai lên trấn Thanh Châu cho kịp.
Mẹ trong bếp gọi vọng ra: “Kiều Kiều, ra ăn cháo nè con. Cháo sáng có thêm chút đường phèn cho ấm bụng đấy.”
Muội “dạ” một tiếng, đứng dậy đi ra. Trên vách bếp, ánh nắng ban mai đầu tiên vừa chiếu vào, hắt một vệt vàng ấm trên bức tường đất. Muội đi qua vệt nắng đó, thấy mình như bước ra khỏi đêm mưa dài, bước vào một ngày mới sáng lạnh và trong veo như sương sớm.
Ngoài sân, đại ca đang giặt cái áo bã trầu lấm bùn của nhị ca, miệng vừa cười vừa mắng nhị ca: “Cái thằng chân đất, chạy đâu cũng vấp.” Nhị ca thì đang phơi cái áo mưa, cãi lại: “Đại ca vừa ướt vừa lạnh cả đêm, ai bảo đại ca leo mái trong mưa!”
Cha đứng bên cạnh, mỉm cười nghe hai anh em cãi nhau như bát nước sôi. Mẹ thò đầu ra cửa bếp mắng: “Hai anh em này, sáng ra cãi nhau đủ ba lần rồi đấy, im mồm ăn cháo!”
Muội bưng tô cháo, thổi phù phù, hít mùi đường phèn ngọt lịm. (ta trong lòng thầm thề: hôm nay lên Thanh Châu, ta phải nhờ Bùi công tử một tay. Không phải vì ta sợ lão Vương Thái Đường, mà vì ta muốn cả nhà này, cha mẹ, đại ca, nhị ca, tam ca ở Kinh Sư, đều được ngủ những đêm mưa mà không phải đội nón lá trong nhà, không phải cầm gậy tre canh cửa bếp)
Cha đi ra, xoa đầu muội, giọng dịu như đèn dầu ấm: “Muội nhi, ăn xong cháo, thay cái áo tốt nhất vào, cha bảo mẹ chải tóc cho con. Đi trấn thì phải cho ra dáng con nhà lành.”
Muội cười tít mắt: “Dạ, cha!”
Ngoài sân, con gà mái đã dẫn đàn con ra bới đất. Bờ rào tre bị rung đêm qua đã được đại ca kéo cho thẳng lại, chỉ còn cái khoảng dột chỗ mà bóng đen luồn qua là còn dấu bùn nhòe. Chiếc khăn tay có mùi cỏ ngải đã được cha xếp lại, cất vào cái hộp gỗ nhỏ đặt trong buồng, chờ làm bằng chứng.
Muội đứng bên hiên, nhìn về hướng trấn Thanh Châu. Từ đây đi, một con đường mòn ngoằn ngoèo qua đồng, qua ruộng dâu, qua bến đò nhỏ, rồi mới ra được đường lớn dẫn vào trấn. Muội biết chuyến đi hôm nay không dễ, mà cũng biết đây là bước đi cần thiết.
(ta ngước nhìn bầu trời. Trên mấy tầng mây xám còn sót lại của đêm mưa, đã có một vệt xanh nhạt lộ ra. Ta thầm nghĩ: Bùi công tử ơi, đêm nay có người đến nhà muội, muội đến gõ cửa tiệm Bùi Ký của huynh đây. Huynh nhớ giữ lời, đừng để muội nhi thất vọng)
Trong bếp, mẹ đã chuẩn bị xong một cái bọc vải nhỏ, bên trong có mấy cái bánh nếp và một túi hương đào khô, dặn muội mang đi ăn dọc đường. Cha đã ra đầu ngõ mượn được xe bò của bác Tư, sáng nay xe sẽ đưa hai anh em ra bến đò trước, sau đó thuê thuyền lên trấn.
Đại ca đã sẵn sàng, mặc cái áo bã trầu khô nhất trong nhà, tay xách theo cây gậy tre “vũ khí” đêm qua. Muội đứng bên đại ca, tay giữ chặt cái bọc mẹ đưa, trong lòng vừa hồi hộp vừa quyết tâm.
Mẹ đưa tay chải lại mấy sợi tóc mai của muội, giọng dặn dò: “Kiều Kiều, ra ngoài phải nghe lời đại ca, không được chạy lung tung, không được nói chuyện với người lạ. Có Bùi công tử thì cũng chỉ nhờ vả trong chừng mực, đừng để người ta khó xử.”
Muội gật đầu: “Dạ, muội nhớ ạ.”
Cha đứng bên cạnh, dặn thêm: “Nếu Bùi công tử đi vắng thì cứ về ngay, đừng chờ đợi. Chuyện nhà mình từ từ tính, không việc gì phải vội.”
Muội “dạ” một tiếng, quay đầu nhìn lại cái mái tranh vá vội đêm qua, nhìn mẹ đứng ở bậc thềm, nhìn nhị ca đang gãi đầu ngơ ngác không được đi cùng. Muội đưa tay khẽ chạm vào tấm ngọc bội trong túi áo, thấy nó vẫn còn nằm nguyên ở đó, mát lạnh mà ấm.
Xe bò lăn bánh ra ngõ, cha đứng ở cổng vẫy tay. Muội ngồi trên xe, tựa vào đại ca, ngoảnh đầu nhìn cái mái tranh nhỏ xíu dần khuất sau lũy tre. Từ trong ngực ra, muội có cảm giác chuyến đi này sẽ đổi một cái gì đó trong đời sống nhà mình, mà chưa biết là đổi lấy phúc hay đổi lấy họa.
(ta cầm chặt tấm ngọc bội, thầm nghĩ: Bùi công tử, muội đến rồi đây. Đêm mưa đã có người đến nhà muội. Muội hy vọng huynh có thể giúp muội thắp một ngọn đèn dầu ấm, để cả nhà muội không phải sợ những đêm mưa sau nữa)
Con đường mòn đưa xe bò băng qua ruộng dâu ướt sương, tiếng bánh gỗ nghiến lộc cộc trên đất, phía trước là trấn Thanh Châu, và một cuộc gặp gỡ mà muội biết sẽ không còn là tình cờ nữa.