Muội Là Công Chúa Nhà Nghèo

Chương 14: Vương Ông Đến Cướp

Sương sớm còn đọng trên tán hoa lê trước cổng, gà nhà bên cạnh chưa kịp gáy dứt hồi ba, muội đã dậy sớm hơn cả mẹ, hai bím tóc buộc gọn, bên tai cài đôi kẹp bướm ngọc mà cả nhà đã quen gọi là “vật thân thể” của muội. Trong bếp, mẹ đang thổi lửa nướng hai củ khoai to nhất, khói bếp bám lên vạt áo bông mẹ mới vá, thơm phức mùi khoai chín. Đại ca ngồi ở bậc cửa buộc lại quai giày cỏ, lâu lâu ngóng ra ngõ xem xe bò đã tới chưa. Nhị ca giấu trong tay áo mấy đồng tiền dành dụm, tam ca ngồi ở góc bàn mài mực, tay vẫn cầm quyển sách nhỏ, chốc chốc lại ngước lên nhìn muội một cái, ánh mắt dịu như đèn dầu ấm.

Trong bụng ta thầm tính: chỉ cần lên trấn Thanh Châu gặp được Bùi công tử, xin chàng một câu hộ vệ trên danh nghĩa “khách hàng của tiệm”, thì lão Vương có gian đến đâu cũng phải nghĩ lại. Nhà mình sẽ có cửa yên tới rằm, có khi qua cả tháng chạp. Rồi mùa xuân tới, muội sẽ có thời gian chậm rãi bày cho tam ca chuyện Song Điệp, không cần bây giờ phải gấp gáp đến sốt ruột.

Ai ngờ, sương chưa tan hết, cửa gỗ đã bị đập dồn dập, rung cả then cài rung cả tim mẹ.

“Trần lão đệ có nhà không? Ra đây, ta có chuyện muốn nói.”

Giọng ồm ồm quen thuộc mà không mấy ai trong thôn Đào Khê muốn nghe. Mẹ đang thổi bếp, tay run làm rơi thanh củi. Cha đặt chén nước vối xuống, khẽ trấn an mẹ một câu rồi bước ra mở cửa. Muội theo sát chân cha, đại ca đi bên cạnh, nhị ca đứng chắn ngay sau lưng muội như con mèo lớn xù lông bảo vệ đàn con, tam ca đứng ở bậc cửa, tay còn cầm cuốn sách chưa kịp gấp lại.

Ngoài cửa, lão Vương Thái Đường mặc áo lụa xanh rộng thùng thình, bụng phệ ưỡn ra như cái trống chầu, sau lưng dàn hàng bốn tráng đinh vai to bằng đô vật, mỗi đứa cầm một thanh trượng gỗ táo. Trong tay lão vọt lên một xấp giấy vàng, bên trên đóng dấu son đỏ chót, đỏ đến mức làm ta chói mắt như sương sớm bị hắt phải nắng.

Cha muội cau mày, giọng vẫn giữ được cái điềm đạm của người nông dân biết đọc biết viết:

“Vương lão gia, sáng bảnh mắt sao lại kéo cả người tới nhà nghèo này? Có chuyện gì cứ vào uống chén nước đã, đứng ngoài cửa nói năng không phải phép làng.”

Lão Vương cười khẩy, môi trề ra như con cá chép mắc câu:

“Nước nhà đệ, ta sợ uống vào thành nước lã. Trần lão đệ, ta hôm nay tới không phải hàn huyên, mà là đòi đất. Chuyện to, không cần chén nước.”

Cả nhà đứng khựng lại. Nhị ca lùi nửa bước, tay xiết vào vai đại ca như để nhắc huynh nhớ hôm qua muội đã dặn gì. Cha khẽ hỏi, giọng đã hơi lạnh:

“Đòi đất? Đất này là đất ông cụ tổ để lại từ đời cụ nội, có sổ đỏ đóng dấu tri phủ tiền nhiệm Hồ đại nhân, giấy tờ còn nguyên trong hộp gỗ nhà tôi. Vương lão gia bảo đòi đất, chẳng lẽ đất trời không có luật?”

Lão Vương phe phẩy xấp giấy như quạt, làm ra vẻ khoan thai:

“Chính vì thế, ta mới đem giấy tờ tới cho lão đệ xem. Đây, khế ước đời cụ tổ Vương gia bảy đời trước cho cụ tổ Trần gia thuê ba sào đất bờ suối để dựng nhà, hạn thuê bảy mươi bảy năm, hết hạn phải trả. Bấy giờ tính lại, hôm qua đúng là ngày đáo hạn. Ta còn nể tình chòm xóm bao đời nên hôm nay mới tới, chứ theo luật đã có thể sai người dỡ nhà từ nửa đêm qua rồi.”

Cha muội đưa tay đón lấy tờ giấy, đọc lướt, hàm nghiến chặt. Ta rướn cổ nhìn theo, con chữ dấu son đỏ rành rành, chỉ có điều dấu son ấy mực chưa lún vào giấy, viền còn hơi bợt như mới đóng đêm qua khi trời chưa sáng. Giấy được hun khói cho ngả vàng nhưng mép giấy chưa giòn, sờ vào còn có cảm giác mềm. Trong lòng ta thầm cười lạnh: giấy vờ đời cụ tổ mà mực son chưa khô, lão Vương này liều thật, mà liều đến độ khinh thường cả trí khôn của nhà nghèo.

Cha cứng cỏi, đưa trả tờ giấy như trả về một con rắn:

“Nhà tôi ba đời có sổ đỏ đàng hoàng, dấu son của tri phủ tiền nhiệm còn nguyên trong hộp gỗ lim. Vương lão gia có giấy, tôi cũng có giấy, cây ngay không sợ chết đứng, ta cùng lên nha môn tri phủ cho công đường phân xử, thắng thua đứng công đường mà nói.”

Lão Vương cười ha hả, tiếng cười vang cả ngõ, dội cả vào tán hoa lê làm mấy cánh trắng lả tả rơi xuống thềm:

“Trần lão đệ có biết tri phủ đương nhiệm là ai không? Là Chu đại nhân, con rể của em họ tam thúc ta. Hồ đại nhân đã về hưu năm trước, dấu son cũ chỉ còn giá trị tham khảo. Đây, đây, ngoài giấy đời cụ tổ, ta còn có công văn tri phủ đương nhiệm ký duyệt tuần trước, đóng dấu son mới, ba mặt chứng minh đất này là của Vương gia cho Trần gia thuê. Nếu Trần lão đệ muốn lên công đường, cứ mời. Ta có bảy phần sổ ruộng ngoài kia làm quà biếu, lão đệ có gì?”

Nhị ca cắn môi, mặt tái đi. Tam ca vẫn đứng im ở bậc cửa, ánh mắt lặng như mặt giếng buổi đêm, nhưng ngón tay xiết chặt cuốn sách đến trắng bệch. Đại ca không nhịn nổi nữa, mắt đỏ vằn như con bò tót thấy vải đỏ, xô cha ra một bước, tay siết chặt thành nắm đấm to bằng cái bát:

“Lão già gian trá! Đất nhà tôi rành rành ba đời, giấy tờ trong tay còn đây, đám giấy giả của ông mực son chưa khô còn dám mang ra dọa người, ông tưởng cả thôn Đào Khê là…”

“Đại ca!”

Nhị ca kéo tay đại ca lại, hạ giọng khẩn khoản, mắt liếc muội một cái:

“Huynh bình tĩnh, đừng ăn miếng trả miếng vội. Nhà mình còn muội, còn cha mẹ, huynh xông vào là trúng bẫy lão. Hôm qua muội đã dặn rồi, không đi đường cùng.”

Đại ca thở hồng hộc, mắt còn đỏ, nhưng không nhích thêm nửa bước. Ta biết huynh đang nghiến răng cắn răng chịu, vì huynh nhớ đến muội và mẹ đang đứng sau lưng, nhớ đến câu muội thầm thì bên tai cha đêm qua. Đại ca mười lăm tuổi, sức khỏe như trâu mộng, nhưng lòng thương em thì mềm như chăn bông cũ mẹ vá tay.

Lão Vương giả bộ nhíu mày, vẻ mặt như đường phèn tan trong nước ấm mà mắt thì lạnh như đá suối tháng chạp:

“Trần đại lang trẻ người non dạ, nói năng chớ hồ đồ, cẩn thận ta bảo lính bắt vào ngục vì tội mắng người có phẩm. Ta cho các người ba ngày. Hoặc là dọn khỏi thôn Đào Khê, đem theo ba đời sổ đỏ mà đi đâu thì đi, hoặc là…”

Lão dừng lại, liếc muội một cái, ánh mắt như dán vào đôi kẹp bướm ngọc trên tóc con bé sáu tuổi, tham đến mức không giấu nổi:

“Hoặc là giao ra bí phương chế nến trầm hương và bí phương chế kẹp tóc bướm ngọc mà con bé nhà lão đệ đã đem sang trấn Thanh Châu bán cho tiệm Bùi công tử. Ta chỉ cần hai thứ bí phương, đất này ta cho các người ở tiếp, còn cho thêm ba mẫu ruộng nước ngoài đầu thôn. Vương gia ta xưa nay công bằng, tính cả nghĩa cả tình, không để chòm xóm ba đời phải đói.”

Lão Vương ngửa mặt cười khan một tiếng, giọng bỗng chùng xuống, pha chút cay nghiệt như đang kể lể cho chính mình nghe hơn là cho cả nhà nghe: “Các người tưởng Vương gia ta giàu có từ trong trứng chắc? Năm ta tám tuổi, cha ta chết queo bên vệ đường vì món nợ thóc giống với nhà họ Chu đời tri phủ trước, cả nhà ta bị lính nha môn lôi ra khỏi mảnh đất hương hỏa chỉ vì chậm nộp tô ba ngày, mẹ ta quỳ giữa sân đình xin khất mà không ai thèm ngoái lại. Từ ngày đó ta thề, đất nào ta thèm, ta phải lấy cho bằng được, của ai ta muốn, ta phải giành cho ra, đời con cháu ta sẽ không bao giờ phải quỳ gối vay ai một hạt thóc nữa.”

Kẹp tóc bướm đính pha lê ngọc trai · phong cách cổ trang

Kẹp tóc bướm đính pha lê ngọc trai · phong cách cổ trang

41.000đ

Xem chi tiết →

Ta nghe đến đây, trong lòng đã sáng bừng như đèn dầu ấm được khêu bấc. Lão này không cần đất, lão cần bí phương. Đất chỉ là cái cớ để ép, giấy tờ giả là cái đòn để dọa, còn tri phủ Chu đại nhân là cái cây to lão đang tựa. Lão đã dò được đường ngõ bí phương của muội, chắc là nhờ thằng đầy tớ nào theo dõi từ hôm muội đem hàng sang tiệm Bùi công tử. Nhưng lão vẫn không dám lấy trắng trợn, vẫn phải mượn giấy tờ đất, chứng tỏ lão còn e ngại Bùi công tử, còn sợ danh dự trong thôn. Điểm sợ ấy, chính là kẽ hở muội có thể luồn qua.

Cha muội mặt trầm xuống, chưa kịp mở miệng, ta đã bước ra nửa bước, ngước cặp mắt tròn xoe lên nhìn lão Vương, giọng non nớt mà từng chữ rõ ràng:

“Vương lão gia thượng…”

Cả nhà quay ngoắt sang muội. Mẹ giơ tay định kéo, cha khẽ chặn tay mẹ lại, mắt nhìn muội thăm dò. Đêm qua muội đã ghé tai cha thì thầm chuyện lên trấn, cha là người tin muội nhất nhà, dù không hiểu hết cũng biết con bé nhà mình có chủ ý. Lão Vương cụp mắt xuống nhìn con bé sáu tuổi trước mặt, cười khinh khỉnh, cái bụng phệ rung theo:

“Con bé con biết gì mà xen vào chuyện người lớn? Về sau mẹ dạy con bé cho biết chữ nghĩa, đừng chạy ra chỗ đàn ông đang bàn chuyện.”

Muội hai tay chắp lại trước bụng, hai bím tóc ngoan như hai con mèo con nằm im, đôi kẹp bướm ngọc trên tóc khẽ run theo tiếng thở của muội. Muội cúi đầu chào lão một cái đúng lễ như mẹ dạy, rồi ngẩng lên, hai má lúm đồng tiền hằn ra như chưa từng nghe chuyện đáng sợ:

“Vương lão gia thượng, muội xin lão gia thêm cho nhà muội một ngày. Bốn ngày, muội giao bí phương. Cha muội thật thà không biết chuyện buôn bán, mẹ muội yếu tay chân, đại ca hay giận không chép được chữ đẹp, nhị ca giỏi tính toán nhưng chưa quen pha chế, tam ca đang bận ôn sách sắp thi huyện, bí phương ấy chỉ muội mới ghi lại được đủ. Ba ngày e muội viết vội, chữ nghĩa sai một nét là hỏng cả mẻ hương, hương liệu ghi thiếu một vị là kẹp bướm ngọc chỉ ra được sắc đục, lão gia cầm về cũng phí cả bạc thuê thợ. Cho muội thêm một ngày, muội viết cho lão gia thượng một quyển sách sạch đẹp, đóng dấu tay muội hẳn hoi, chữ nào ra chữ ấy, ba mặt một lời.”

Trong nhà, đại ca há hốc miệng, nhị ca sững lại, tam ca ở bậc cửa thò đầu ra nhìn muội, ánh mắt như thể không tin tai mình. Mẹ tay run run nắm chặt vạt áo, mắt đã đỏ hoe, môi mấp máy gọi “Kiều Kiều” mà không thành tiếng. Cha muội quay ngoắt sang muội, môi mím lại thành một đường thẳng.

Lão Vương ngớ ra một thoáng, sau đó cười hô hố, vỗ đùi cái bốp, cả cái bụng phệ rung theo:

“Ha ha, hay lắm, hay lắm! Con bé nhà Trần đại lang khôn thật, biết thức thời, biết đường sống. Đúng là con nhà nghèo phải sớm khôn. Được, ta cho các người bốn ngày. Đến giờ ngọ ngày thứ tư, ta đích thân dẫn người tới lấy bí phương. Nhớ đấy con bé, thiếu một câu chú, sai một vị hương liệu, ta cho lính bổ nhà các người ra làm củi đun bếp tết. Ha ha, đúng là ông trời có mắt, cho ta gặp đứa biết điều.”

Lão liếc muội lần cuối, ánh mắt lần này còn tham hơn cả lúc nhìn kẹp bướm ngọc, rồi xoay người bước đi. Bốn tráng đinh khoa trượng gỗ theo sau, tiếng cười khả ố còn vang cả ra đầu ngõ, hoà lẫn tiếng gà nhà bên cạnh gáy trễ hồi hai.

Cửa gỗ vừa khép lại, mẹ đã ngã quỵ xuống ghế tre, ôm lấy muội mà nước mắt rơi lã chã, ướt cả vai áo bông muội mới thay hôm qua:

“Kiều Kiều nhi muội, muội dại rồi con ơi! Muội có biết không, bí phương ấy là cần câu cơm của cả nhà, là mái ngói tết này của cả nhà, là chăn bông mới cho cha mẹ. Muội đưa cho lão là muội đói cả nhà, muội đói cha, đói mẹ, đói ba huynh muội đấy con ơi! Sao muội không để cha mẹ lo, sao lại nhận bừa như vậy?”

Đại ca cũng đỏ mắt, vỗ mạnh xuống bàn làm chén nước vối sóng ra ngoài:

“Muội muội, sao muội hồ đồ vậy? Đại ca thà đi ăn xin còn hơn để lão Vương cầm bí phương của muội. Chuyện này muội để ca ca lo, ca ca đi làm thuê ba năm cũng đủ tiền chuộc đất, muội đừng có nhận bừa như vậy!”

Nhị ca ngồi xuống trước mặt muội, hai tay đặt lên vai muội, giọng dịu như chăn bông ấm ngâm mùi khói bếp:

“Kiều Kiều, muội đừng gánh chuyện này một mình. Muội còn nhỏ, chuyện lớn có cha mẹ, có ba huynh. Nhị ca đang nghĩ cách, chỉ cần muội hứa với nhị ca là muội không tự mình quyết chuyện to nữa.”

Tam ca không nói gì, chỉ khẽ đặt tay lên đầu muội, mấy ngón tay dài mảnh khảnh chải tóc muội thật nhẹ, đầu ngón chạm vào cánh trái kẹp bướm ngọc. Ta nhận ra ngón tay huynh khẽ khựng lại nửa nhịp, hình như huynh vừa cảm thấy cái gì đó thân quen trong đường vân ngọc, mà chính huynh cũng không biết vì sao lại thân quen. Ta cụp mắt xuống, tự nhắc mình đừng vội, chuyện Song Điệp phải đợi tam ca đủ vững.

Muội ngước mắt, cười tít, hai lúm đồng tiền hằn sâu như hai giọt đường phèn tan trong má:

“Cha ơi, mẹ ơi, ba huynh ơi, cả nhà nghe muội nói. Muội chưa hề nói giao bí phương cái gì. Muội chỉ nói giao bí phương thôi. Trong đầu muội có mười cái bí phương, trong đó có một cái là bí phương thật, còn chín cái… còn chín cái để lão Vương cầm về vẽ vời cho vui. Muội sẽ viết cho lão một quyển sách thật đẹp, giấy tốt mực đen, mỗi trang một công thức, đọc lên nghe rất kêu, chữ ngâm hương liệu đàng hoàng, chỉ có điều đem về đun ra thì thành nước lã, đốt lên thì thành khói xám, mà chứng minh viết sai thì lão không chứng minh nổi, vì bí phương nào chả có chỗ tam sao thất bản.”

Cha muội trừng mắt, sau đó bật cười, tiếng cười khàn khàn mà nhẹ cả một gánh nặng:

“Con bé nhà cha… cha đúng là không nuôi lầm.”

Mẹ vẫn còn nước mắt trên mặt, nhưng khoé môi đã hơi cong lên:

“Kiều Kiều nhi muội, thế còn ba ngày để làm gì?”

Muội chớp mắt, giọng nhỏ như tiếng gà con vừa nở:

“Ba ngày quá gấp, bốn ngày là vừa đủ cho muội và tam ca lên trấn Thanh Châu một chuyến, xin Bùi công tử một câu che chở trên danh nghĩa khách hàng lớn của tiệm, đồng thời nhờ chàng dò giùm giấy tờ đất giả của lão Vương ở nha môn. Chàng có mối trên trấn, mối trên còn có mối cao hơn nữa, chỉ cần một câu chàng nói ra, lão Vương phải chùn tay ba phần. Sau khi về, muội có hai đêm để chép quyển sách chín phần giả một phần thật cho lão, còn tam ca giúp muội đóng bìa. Một lời đã nói tứ mã nan truy, nhưng muội chưa nói giao bí phương gì cả, nên tứ mã cứ đứng đó chờ, muội chưa cưỡi.”

Đại ca thở phào một hơi dài, sau đó vò tóc muội đến rối cả bím:

“Đại ca đúng là hồ đồ, muội muội mới sáu tuổi mà tính hơn cả đại ca mười lăm. Đại ca hứa từ giờ nghe lời muội, muội bảo đứng thì đứng, muội bảo ngồi thì ngồi.”

Nhị ca cười khẽ, mắt sáng như đèn:

“Vậy chuyện lên trấn ngày mai, để đại ca đi cùng muội, huynh vai to đi trước dẹp đường. Nhị ca ở nhà lo hộp gỗ giấy tờ đất, hộp đó phải giấu chỗ nào bốn ngày sau lão Vương có phá nhà cũng không tìm ra.”

Tam ca gật đầu, giọng trầm mà ấm:

“Tam ca đi cùng muội. Chuyện chép sách chín phần giả cần một người viết chữ đẹp, còn chuyện gặp Bùi công tử, muội cần một người ăn nói cẩn thận. Đại ca ở nhà giữ cha mẹ, phòng khi lão Vương lại tới.”

Muội gật đầu, ngoan như con mèo con vừa được vuốt sống lưng. Ngoài cửa, sương sớm đã tan gần hết, một tia nắng đầu ngày xuyên qua tán hoa lê, rọi thẳng vào cánh trái kẹp bướm ngọc trên tóc muội. Cánh bướm ngọc khẽ ánh xanh, như đang thầm cười cùng chủ nhân, như đang chờ cánh phải ở đâu đó gần đây khe khẽ đáp lại.

Trong lu gạo góc bếp còn nửa bơ, ngoài chuồng gà mới hai con mái, trong hộp gỗ khảm trai của muội còn nguyên bí phương thật, còn trên tay tam ca cuốn sách chưa gấp có nét mực chưa khô. Ta khẽ nắm chặt vạt áo mẹ, trong bụng thầm nhủ: kiếp trước ta không có cha mẹ ba huynh, kiếp này ai muốn cướp của ta, phải bước qua xác lão Vương trước đã.