Muội Là Công Chúa Nhà Nghèo
Chương 15: Muội Không Sợ
Nước mắt của mẹ đêm hôm ấy chảy xuống vai muội, ấm mà mặn, chảy chậm rãi như một sợi chỉ tơ ai vụng tay kéo mãi không dứt. Muội vỗ vỗ lưng mẹ bằng hai bàn tay bé xíu, giọng khe khẽ như đứa trẻ dỗ mèo con lạc mẹ: “mẹ ơi, cha ơi, muội có cách rồi, cha mẹ chỉ cần đắp chăn ấm ngủ ngon một giấc, sáng mai muội dậy sớm hơn con gà trống nhà bác Ba là mọi chuyện đâu vào đấy.” Mẹ vẫn nấc, cha ngồi bên nan giường tre khẽ thở dài, đại ca đứng dựa cửa mắt đỏ hoe. Muội thấy vậy chợt buồn cười, muội thầm nghĩ: cả nhà cưng ta như hạt đường phèn ngậm trong miệng sợ tan, nhưng ta đâu phải hạt đường phèn, ta là muội của các người, ta có gan lì hơn cả củ cải luộc muối phơi ba nắng.
Ba ngày sau đó, muội dậy trước cả sương.
Trời còn tối om, chim khách chưa dám hót, muội đã lò dò trở dậy, khoác chiếc áo bông vá tám mảnh mẹ may cho từ mùa đông năm ngoái, chân xỏ đôi hài cỏ đại ca bện. Sân đất lạnh như đá ướp, ngoài vườn hoa lê rụng dày thành lớp, trắng lấm tấm như ai đổ nhầm một túi bột năng. Muội cúi lom khom, gạt cỏ ướt sang một bên, hai đầu gối bé nhỏ ướt sương ướt lộp bộp, mà lòng thì ấm cứng như củ khoai vùi bếp than qua đêm. Muội hái đầy giỏ hoa lê rơi, chọn kỹ từng cánh còn tươi, cánh nào sâu ăn hay dập nát muội bỏ lại gốc cây coi như trả lại cho đất. Ta của kiếp trước học ngành mỹ nghệ, hai mươi lăm năm cô độc ta chỉ có mấy cái bình sứ và hộp gỗ nhỏ làm bạn, nay ta có cả một vườn hoa lê, cả một trời sương sớm, cả một mẹ đang ngủ ngon trong nhà, ta còn than gì được nữa.
Giỏ hoa đầy, muội len lén trở vào bếp. Bếp còn tối, chỉ có ánh than hồng nhấp nháy trong đống tro. Muội ngồi xổm quay lưng lại cửa, khẽ nhắm mắt, ý niệm rung nhẹ một cái, cả người liền chìm vào không gian tâm linh. Không gian ấy vẫn như mọi lần: một khu vườn nhỏ mọc đủ dược thảo, một dòng suối trong veo chảy quanh, chính giữa là căn nhà gỗ ba gian, giá gỗ dựng dọc tường, sắp la liệt bình lọ chai chai. Muội lấy xuống ba bình: một bình nhựa cây độc nhẹ vỏ dán chữ “khinh mê”, một bình bột hương liệu tạp không phải trầm nhưng nhả khói rất thơm, một bình mỡ ong tạp chất muội hay dùng làm nến rẻ. Muội cầm cả ba bước ra, đứng thêm một giây nhìn giá gỗ đầy đủ mà thầm mỉm cười: giá gỗ này chính là gia sản của cả nhà, chỉ có điều cả nhà không biết, cả nhà cứ tưởng muội của họ là con bé nghèo rớt mồng tơi cần cưng như trứng mỏng.
Trở ra bếp, muội nhóm lửa, đặt cái nồi đất nhỏ lên. Muội đun mỡ ong tan chảy, cho bột hương liệu tạp vào khuấy đều, mùi thơm bốc lên đúng y như trầm hương thứ thiệt: ngọt sâu, ấm nhè nhẹ, thoang thoảng có chút gỗ mục lâu năm. Nếu mũi lão Vương có tinh đến đâu cũng phải gật đầu công nhận. Muội cẩn thận cân đo, cho vào đúng hai giọt nhựa cây “khinh mê” trên đầu que trúc. Hai giọt thôi, không được nhiều hơn: nhiều hơn là chết người, ít hơn là không có tác dụng. Ngửi thoáng qua thì thơm ngọt như tiên cảnh, ngửi liền tay nửa canh giờ thì đầu nặng như đeo đá, ngửi liền tay một canh giờ thì buồn nôn hoa mắt, ngửi liền tay ba canh giờ thì sốt cao mê man. Muội gọi thầm trong bụng: đây là quà đặc biệt muội gửi lão Vương, mong lão khỏe khoắn nhận cho tử tế.
Muội đổ hỗn hợp vào khuôn tre, cắm sợi bấc bông vào giữa, chờ nguội thì lấy ra, mỗi cây nến to bằng cổ tay trẻ con, dài chừng nửa gang, vàng nhạt như mật ong loãng. Muội xếp gọn hai mươi cây vào một cái khay tre lót lá chuối khô, đậy nắp cẩn thận. Đến khi làm xong cây cuối cùng, sương ngoài sân cũng bốc lên thành khói mỏng, mặt trời chưa lên nhưng chân trời đã có một dải bạc mờ. Muội ngồi thừ trên ghế gỗ, hai chân đung đưa không chạm đất, tay đưa lên xoa xoa cái mũi lem bồ hóng, thầm nghĩ: cha mẹ với ba huynh mà biết muội chế “đồ” như thế này chắc rụng cả tim, nhưng thôi, chuyện xấu ta gánh, chuyện thơm để cả nhà cùng ngửi.
Việc thứ hai còn phải làm là quyển bí phương giả.
Muội trở vào không gian tâm linh lần nữa, lấy ra tệp giấy bản đã ố vàng và một nghiên mực nhỏ. Muội chọn thứ mực loãng nhất, thứ mực nhoè, thứ mực mờ như sương buổi sớm, ai đọc cũng phải nheo mắt. Muội nắn nót viết bằng chữ Hán cổ nét khắc như răng cưa, cố ý dùng thứ chữ triện đã ngót nghét mấy trăm năm không mấy ai còn đọc thông. Muội chép chín trang, mỗi trang một công thức trầm hương, nhưng công thức nào cũng thiếu đi một vị mấu chốt hoặc lệch liều mấu chốt: kẻ ngu thì đọc không hiểu, kẻ khôn thì làm ra sẽ hỏng, kẻ rất khôn thì làm ra được nhưng thứ nến ấy chỉ toàn hương giả, thắp lên khói đen mù mịt xông ngộp mũi. Muội gấp quyển bí phương lại, buộc bằng một sợi dây gai cũ, mặt ngoài đề bốn chữ triện lớn ngoằn ngoèo: Trần thị hương phổ. Muội nhìn đi nhìn lại, thấy mình vừa buồn cười vừa hài lòng: quyển này mà bán ngoài chợ Thanh Châu cũng đủ vài đồng bạc lẻ, huống hồ đem lừa lão Vương chỉ biết nhìn giấy cũ mà tưởng bảo vật gia truyền.
Sáng ngày thứ hai, đại ca xách gói cơm nắm mẹ gói, khoác thêm chiếc áo tơi rơm, chạy bộ một mạch lên trấn Thanh Châu tìm Bùi công tử. Đại ca đi từ lúc gà chưa gáy canh năm, đến chiều muộn vẫn chưa thấy về. Muội đứng ngoài ngõ tre trông ngóng, hai bím tóc buông trước ngực, tay cầm một cành hoa lê nhỏ vừa hái. Mẹ nhìn muội tựa cửa, thở dài kéo muội vào lòng: “muội nhi ơi, sao muội cứ khiến cả nhà lo suốt vậy con, mẹ chỉ mong đại ca về sớm, chỉ mong Bùi công tử tới nhanh.” Muội ngoan ngoãn dụi má vào vai mẹ, thầm cười trong bụng: mẹ ơi, muội không lo đâu, muội chỉ đang tính xem tối nay nấu cháo gì để đãi Bùi công tử thôi, chàng đi đường xa chắc đói bụng lắm.
Trời sập tối, đèn dầu vừa thắp, tiếng vó ngựa đã lộp cộp ngoài đường đất. Bùi công tử về ngay trong đêm ấy, chàng dẫn theo hai thị vệ mặc thường phục áo vải nâu như dân đi làm mướn, mỗi người đều xách một chiếc ống trúc dài đến khuỷu tay. Muội liếc qua đã biết trong ống trúc là đao, cán quấn vải thô để không phát ra tiếng lanh canh, giấu vừa đủ khéo để người thường nhìn cũng chỉ tưởng là ống đựng nước. Ta của kiếp trước xem không ít phim cổ trang, ta còn lạ gì mấy chiêu giấu binh khí, chỉ có điều mấy chiêu ấy ta không nói ra, nói ra rồi cả nhà ngất mất.
Bùi công tử vào nhà, chàng cúi đầu chào cha mẹ đúng lễ, tiếng cha mẹ thưa “công tử” nghe cứ rưng rưng như sắp khóc. Chàng khoát tay bảo hai thị vệ ra ngoài giữ cửa, chỉ để lại một đèn dầu nhỏ trên bàn tre. Ánh đèn vàng hắt lên khuôn mặt chàng, đường mày kiếm dài, mũi cao, môi mỏng: cả người chàng như tạc từ một thanh ngọc trắng lành lạnh, chỉ có đôi mắt là ấm, ấm như hơi nước bốc lên từ bát cháo mới nấu. Muội đứng nép sau lưng mẹ, tay bấu chéo tà áo mẹ, cố ra vẻ ngoan ngoãn e dè của một đứa bé sáu tuổi lần đầu gặp khách quý.
“Trần lão bá, Trần đại nương, đại ca đã kể qua sự tình cho tại hạ,” Bùi công tử nói chậm, giọng trầm ấm như khói trầm nhả trong đêm mưa. “Việc lão Vương tại hạ đã có sắp xếp riêng, xin cha mẹ và các huynh đệ cứ yên tâm nghỉ ngơi ba ngày, mọi việc để tại hạ và muội nhi lo liệu.”
Mẹ nghe hai chữ “muội nhi” thì hoảng, mẹ ôm siết muội vào lòng như sợ chàng bồng đi mất: “công tử ơi, muội mới sáu tuổi…” Bùi công tử mỉm cười, chàng gật đầu ra ý hiểu, không nói gì thêm về chuyện tuổi tác. Chàng chỉ khẽ đưa mắt nhìn muội một cái rất dài, dài đủ để muội thấy mình bị nhìn thấu như bát nước lã.
Đại ca ngồi mâm cơm với chàng, ăn qua loa nửa bát cháo trắng cho đỡ đói. Cha mang cái bình rượu tự nấu quý nhất giấu dưới gầm giường ra, rót cho Bùi công tử nửa chén nhỏ. Chàng nâng chén lễ phép, uống một hơi, đôi mắt dài liếc sang phía muội ngồi khép nép ăn cháo. Cha mẹ và đại ca đi ngủ trước, chỉ còn muội và chàng ngồi lại bên bàn tre, ngoài trời khuya đã sâu, tiếng dế kêu ri rỉ ngoài vườn hoa lê.
Muội đặt cái khay tre lên bàn, mở nắp ra, hai mươi cây nến vàng nhạt nằm xếp ngay ngắn trên lá chuối khô. Muội đặt cạnh khay là quyển bí phương giả buộc dây gai. Muội chỉ chỉ, giọng khe khẽ: “Bùi công tử, nến này là đồ giả, ngửi thoáng qua thì thơm ngon, ngửi lâu thì đau đầu chóng mặt buồn nôn, ngửi liên tục ba canh giờ trở lên thì sốt cao mê man. Quyển bí phương này cũng là đồ giả, chữ triện cổ rất khó đọc, nhưng công thức bên trong đều lệch một vị, kẻ nào làm theo sẽ ra nến khói đen mù mịt, không thành hình được. Bùi công tử vui lòng ngày mai đích thân đến nhà lão Vương, thấy lão nhận đủ thì báo tri phủ mới rằng đất nhà muội trong sổ giả.” Muội nói một mạch, giọng bé bé mà rành rẽ như thầy đồ dạy chữ, hai bàn tay nhỏ đan chéo trước bụng.
Bùi công tử không đáp ngay. Chàng nhìn muội chăm chú qua ánh đèn dầu, ánh mắt chàng như hai giọt mực loãng thấm vào tờ giấy bản, thấm chậm mà thấm sâu. Một hồi lâu, chàng mới cười nhẹ, giọng chàng chợt thấp xuống, thấp đến mức chỉ có mình muội và chàng cùng nghe:
“Muội nhi, muội nghĩ ra được cả trò này, quả thật không phải bé sáu tuổi bình thường.”
Muội cứng người.
Cả thân muội chợt lạnh như bị hắt nửa gáo nước giếng lên vai. Ta ơi, chàng đoán ra rồi ư, chàng nhìn thấu hồn kiếp trước rồi ư, chàng biết bên trong cái vỏ sáu tuổi này là một cô hai mươi lăm tuổi mồ côi cô nhi viện rồi ư. Muội cố nén, hai bàn tay nhỏ xíu bấu chặt vào nhau, đầu ngón tay trắng bệch. Muội định mở miệng nói dối, muội định bịa ra một câu bà nội truyền lại hay ai đó dạy, nhưng lưỡi muội cứng đơ trong miệng, chữ nào cũng không chịu ra.
Bùi công tử lại chỉ khẽ mỉm cười. Chàng không hỏi thêm câu nào. Chàng không truy vấn muội học từ đâu, không truy vấn muội là ai, không truy vấn cái không gian tâm linh gia truyền có thật hay không. Chàng chỉ đứng lên, khẽ với tay cầm tấm chăn bông vá mẹ đắp hờ trên ghế tre bên cạnh, kéo tấm chăn lên đắp lại vai muội. Chàng đắp cẩn thận, gấp mép chăn vào cổ muội cho khỏi lọt gió, hai đầu ngón tay chàng dài mà ấm, chạm qua vai muội chỉ một chớp mắt rồi rụt lại. Chăn bông vá của mẹ có mùi khói bếp, có mùi nắng, có mùi nước bồ kết, có mùi chính là mùi của cả nhà muội. Chăn ấy phủ lên vai muội, muội chợt thấy sống mũi cay cay không đâu.
“Đêm khuya rồi, muội nhi ngủ đi,” Bùi công tử nói. “Nến và bí phương để tại hạ mang về cất, sáng mai tại hạ mang tới tận nhà lão Vương. Muội nhi cứ yên tâm, có tại hạ đây, không ai dám động vào cây tóc nào của muội.”
Chàng chào một tiếng nhẹ rồi lui ra. Cửa gỗ khép lại, tiếng cửa cọt kẹt nhỏ nhỏ như tiếng ai đắp thêm một lớp chăn nữa lên trái tim muội. Muội ngồi trên ghế tre một lúc lâu, nghe tiếng dế ngoài vườn, tiếng thở đều đều của cha mẹ và các huynh trong buồng, tiếng chân Bùi công tử và thị vệ khe khẽ ngoài sân. Muội đưa tay sờ lên vai mình chỗ chàng vừa đắp chăn, đầu vai ấm rực. Ta ơi, người này thật khiến ta không hiểu nổi. Chàng biết ta không phải sáu tuổi thật sự, chàng biết mà chàng không hỏi, chàng chỉ đắp chăn cho ta. Kiếp trước ta hai mươi lăm năm không có ai đắp chăn cho ta cả, thì ra cái cảm giác được người khác đắp chăn cho là như vậy, nó nặng hơn cả một bát cháo nóng, nó ấm hơn cả một chậu than hồng đêm ba mươi.
Muội cụp mắt xuống, khoé miệng khẽ cong lên, hai má lúm đồng tiền lún nhẹ trong ánh đèn dầu.
Sáng ngày thứ tư, mặt trời chưa lên hẳn, lão Vương đã tới. Lão vẫn cái điệu ấy, mặt béo phính, hai con mắt ti hí, tay ngoáy cây quạt giấy lộ mấy vệt mồ hôi cũ. Sau lưng lão là ba tên đầy tớ vác gậy, mắt liếc ngang liếc dọc như chó săn đánh hơi. Lão bước vào sân đất nhà muội, giọng oang oang tưởng nhà mình: “con bé họ Trần đâu, hàng đâu, đưa đây cho lão xem.”
Cha mẹ và các huynh đứng khép nép bên bậc cửa, mặt tái xanh. Muội hai tay bưng cái khay tre, khay đậy vải điều đỏ, đi từ trong bếp ra, dáng đi lũn cũn của một bé sáu tuổi ngoan ngoãn nghe lời. Muội đặt khay lên bàn tre giữa sân, vén tấm vải điều, hai mươi cây nến vàng nhạt nằm xếp ngay ngắn thơm ngào ngạt. Muội lại đặt quyển bí phương buộc dây gai lên trên, cúi đầu lễ phép: “Vương lão gia, đây là hai mươi cây nến trầm hương và quyển Trần thị hương phổ nhà con, xin lão gia nhận cho.”
Lão Vương chộp lấy quyển bí phương trước, mở ra săm soi. Lão đọc mấy chữ triện, đọc không thông nhưng vẫn ra vẻ, gật gù: “hừm, chữ cổ, chữ cổ, quả nhiên gia truyền.” Rồi lão cầm một cây nến lên đưa lên mũi ngửi, hai lỗ mũi phập phồng ra vẻ sành sỏi. Mùi trầm thơm ngát bốc lên, lão nhắm mắt tận hưởng, hai bên khoé miệng vênh lên tận mang tai. Lão cười khà khà, đắc ý: “được, được, tốt lắm. Từ nay đất nhà các người bổn hào quyết định để lại cho các người tạm ở, mỗi tháng dâng cho bổn hào năm cây nến, nghe rõ chưa.”
Cha muội cúi đầu vâng dạ, giọng cha khản khản. Mẹ muội cúi đầu chớp mắt liên tục cố nén nước mắt. Muội đứng bên cạnh mẹ, kéo kéo tà áo mẹ, giọng bé xíu ngoan hết mực: “dạ vâng ạ, muội con cảm ơn Vương lão gia.”
Lão Vương hài lòng lắm, lão xách hòm nến và quyển bí phương lên cáng ngựa, phất áo đi mất. Đám đầy tớ theo sau, tiếng cười thô lỗ vọng dội cả ngõ tre. Đợi bụi đường lắng xuống, mẹ mới quỳ sụp ôm muội, nước mắt lại rơi lã chã. Cha vỗ vai mẹ, giọng cha run: “thôi, thôi, con nói con có cách thì mình tin con lần này.” Muội cười, hai má lúm đồng tiền lún sâu, muội quàng tay ôm cả mẹ và cha: “cha ơi mẹ ơi, muội hứa rồi mà, muội chưa bao giờ nói dối cha mẹ, cha mẹ cứ yên tâm đun bếp nấu cháo, ba ngày sau trắng đen phải rõ.”
Ba ngày sau.
Ba ngày ấy trôi qua trong nhà muội yên ả một cách kỳ lạ, yên ả như mặt hồ trước cơn mưa dông. Mẹ vẫn thổi cơm, cha vẫn chẻ củi, đại ca vẫn lên rừng, nhị ca vẫn theo muội ra vườn hái hoa lê rơi, tam ca vẫn ngồi bên cửa sổ đọc sách. Muội thì tranh thủ chế thêm một mẻ nến thật, mẻ này để dành bán cho khách quen của Bùi công tử trên trấn Thanh Châu. Muội cũng chép thêm một quyển hương phổ thật, quyển thật này muội cất vào hộp gỗ khảm trai trong không gian tâm linh, khoá kỹ, chỉ có mình muội mở được. Ta của kiếp trước bảo vật không có, kiếp này ta phải giữ chặt cho cả nhà, ta không phải hạt đường phèn nữa, ta là mảnh ngói lợp đầu tiên trên mái nhà cha mẹ.
Rồi cái tin ấy tới, tin dội cả thôn Đào Khê.
Trưa ngày thứ ba, chú Bảy chạy hộc tốc từ trấn Thanh Châu về, chú vừa chạy vừa la lớn ngoài ngõ: “trời ơi, lão Vương ngã bệnh rồi, sốt cao mê man ba đêm nay không tỉnh, mồm cứ lảm nhảm chuyện tham của người ta, cả nhà lão nháo nhào.” Rồi chú thở hồng hộc kể tiếp, tri phủ mới nhậm chức ở Thanh Châu vốn là bạn cũ của Bùi công tử, hôm qua đích thân tra sổ đất, phát hiện tờ giấy tờ đất nhà muội và mấy nhà nghèo khác trong thôn đều là do lão Vương cấu kết với tri phủ cũ giả mạo. Tri phủ mới nổi trận lôi đình, đích thân dán cáo thị ngoài cổng phủ: gạch tên lão Vương khỏi sổ hào phú của huyện, trả lại đất cho các hộ nghèo, đợi lão Vương khỏi bệnh sẽ giải lên phủ xét xử.
Cả thôn Đào Khê nghe tin thì như vỡ chợ, ai cũng bảo trong nhà chưa tỏ ngoài ngõ đã tường, gieo gió thì phải gặt bão, đáng đời lão Vương một đời chèn ép dân nghèo. Mấy nhà bị lão cướp đất kéo nhau đến trước cổng nhà muội, đứng vái mấy vái, gọi cha mẹ muội là ân nhân. Cha muội đứng lóng ngóng ở cửa gỗ, hai tay khoanh trước ngực không biết đặt vào đâu, mặt cha đỏ bừng như bị gió cháy. Mẹ muội thì đứng sau lưng cha, hai tay vỗ vỗ ngực, nước mắt lại chực trào ra, mẹ cứ lẩm bẩm: “Bồ Tát ơi, Bồ Tát ơi, may quá, may quá.”
Muội đứng trong bếp, tay đang khuấy nồi cháo hoa lê nấu với đường phèn cho tam ca đang ho khan, muội nghe tiếng ngoài sân thì khẽ cong khoé môi lên. Nồi cháo sôi lăn tăn, hơi nóng bốc lên phả vào mặt muội, hai má muội đỏ hồng như hai quả táo dại chín tới. Muội thầm nghĩ: lão Vương ơi, muội cảm ơn lão đã cho muội một dịp thử tay nghề, sau này lão đừng động vào nhà muội nữa nhé, nhà muội tuy nghèo nhưng trong lu vẫn còn nửa bơ gạo, ngoài vườn vẫn còn cả một trời hoa lê rơi, trên vai vẫn còn chăn bông của mẹ, và… ngoài cửa sổ vẫn còn một ánh mắt của ai đó đang khẽ nhìn muội qua đèn dầu, ánh mắt ấy ấm hơn cả bát cháo đường phèn đang sôi trong nồi đất.
Muội múc cháo ra bát, đặt lên khay tre, bưng ra bàn cho tam ca. Tam ca ngước lên, đôi mắt sáng như sao đêm, khẽ mỉm cười. Trên vai áo tam ca cài một chiếc kẹp tóc bằng ngọc trắng, chạm hình cánh bướm mờ mờ, chiếc kẹp ấy tam ca đeo từ nhỏ, không ai biết lai lịch, tam ca cũng không kể. Muội liếc qua, tim muội chợt đập lỡ một nhịp, muội thầm ghi nhớ chiếc kẹp bướm ấy vào một góc nhỏ trong lòng, coi như một hạt cát vô tình rơi vào chén trà, không nói với ai, chỉ để dành cho ngày muội bình tĩnh đủ để hỏi cho ra lẽ.
Ngoài kia, gió chiều thổi qua vườn hoa lê, cánh hoa trắng rụng lả tả xuống mái ngói vá. Trong bếp, cháo hoa lê thơm ngọt sôi lăn tăn. Trên bàn tre, quyển hương phổ giả đã đi mất theo lão Vương, còn quyển thật đang nằm ngoan ngoãn trong hộp gỗ khảm trai của muội. Muội của kiếp trước từng nghĩ, đời một cô mồ côi thì chỉ có sương với gió. Muội của kiếp này biết rồi, đời muội có mẹ, có cha, có ba huynh, có một Bùi công tử biết đắp chăn cho muội mà không hỏi thêm câu nào.
Muội của kiếp này, muội không sợ.
Chỉ có điều muội chưa biết, sổ hào phú tuy đã gạch tên lão Vương, nhưng dòng họ Vương ở trấn Thanh Châu vẫn còn đó, và món nợ ân oán này, rồi sẽ có ngày tìm đường quay lại.