Muội Là Công Chúa Nhà Nghèo
Chương 16: Tiến Cống Cung Vua
Cuối hè, ve trên vòm cây bạc thau đầu ngõ kêu ran như ai đổ một nia gạo lên mái tranh, tiếng ve rơi rào rào cả sáng cả trưa, muội nghe nhiều đến nỗi ngồi khuấy nồi chè hạt sen mà cứ tưởng mình đang ngồi giữa cối xay lúa. Đơn hàng một trăm cây nến trầm hương của Bùi công tử đặt cách đây hai tháng cũng đã đến kỳ giao. Muội đếm đi đếm lại ba lần, xếp gọn vào bốn thùng gỗ nhẹ lót lá chuối khô, mỗi thùng đúng hai mươi lăm cây, nắp thùng đậy bằng vải điều mới thắt nút hình như ý, ngoài thùng dán một dải giấy hồng đề bốn chữ triện nhỏ do đích tay tam ca viết: Trần thị hương phổ.
Bùi công tử đến từ sáng sớm, chàng vẫn cỗ xe ngựa đen chạm bạc quen thuộc ngoài ngõ, chỉ có điều lần này chàng cho hai chú tráng đinh xuống bê thùng, còn chàng ngồi lại trong sân đất nhà muội một hồi, không vội rời đi. Cha muội hôm ấy vẫn còn ngại chuyện lão Vương chưa nguôi, đứng khép nép bên bậc cửa hai tay chắp trước bụng. Mẹ muội bưng ra một chén trà lá vườn nóng hổi, tay mẹ vẫn hơi run vì mẹ chưa quen rót trà cho công tử áo lụa. Bùi công tử đón chén trà bằng cả hai tay, chàng cúi đầu tạ mẹ đúng lễ như tạ một trưởng bối, khiến mẹ ngẩn người, hai gò má chai sạm ửng hồng như một đứa trẻ vừa được khen ngoan.
“Trần lão bá, Trần đại nương,” chàng nói, giọng vẫn thấp mà ấm như khói trầm nhả trong đêm mưa, “một trăm cây nến này tại hạ mang thẳng về Kinh Sư, có việc muốn xin bẩm hoàng thượng. Xin phép cha mẹ và muội nhi cho tại hạ đi hai tháng, khi trở về nhất định sẽ có tin vui.” Cha muội cứng lưỡi vâng dạ, mẹ muội chỉ biết chớp mắt liên tục, muội đứng nép sau vai mẹ, lòng bàn tay bấu chặt tà áo, lén liếc chàng một cái thật nhanh. Ta ơi, chàng nói “có việc muốn xin bẩm hoàng thượng” mà cứ như đang nói ra chợ mua nửa cân đường phèn, giọng chàng bình thản đến mức muội nghi ngờ chính lỗ tai của mình.
Nến thơm 'Đen Trầm Tính' · Trạm Hương, hương gỗ trầm ấm
179.000đ
Xem chi tiết →Bốn thùng nến xếp lên xe ngựa, hai chú tráng đinh đóng nắp thùng bằng dây gai buộc chéo hình chữ tỉnh. Bùi công tử trước lúc lên xe còn ngoái lại, đưa mắt nhìn muội một cái, cái nhìn dài như một sợi tơ đèn dầu vừa được kéo mảnh, kéo tận sang bên kia vườn hoa lê rụng còn thơm. Chàng không nói câu nào, chỉ khẽ gật đầu với muội một cái. Muội hiểu ngay: chàng muốn muội yên tâm ở nhà đợi. Muội cũng khẽ gật đáp lại, hai bím tóc nhỏ đung đưa. Xe ngựa lăn bánh, bụi đất mùa hè bốc lên vàng vàng dưới nắng, tiếng ve trên vòm cây bạc thau lại kêu ran, lấp cả tiếng vó ngựa đi xa dần.
Hai tháng ấy trong nhà muội trôi qua chậm rãi, chậm như một bát cháo đường phèn ninh trên bếp than liu riu. Mẹ vẫn nấu cơm, cha vẫn chẻ củi, đại ca vẫn lên rừng, nhị ca vẫn đi câu tôm ở suối sau. Tam ca đã lên trấn Thanh Châu tiếp tục học ở nhà một thầy đồ già mà quan tri phủ mới giới thiệu, nửa tháng mới về một lần, mỗi lần về muội đều nấu cho tam ca một nồi chè hạt sen hạt to, đường phèn thắng vàng như hổ phách. Muội thì tranh thủ chế thêm hai mươi cây nến để dành, chế thêm ba cái kẹp tóc bướm ngọc để lỡ có khách quen của Bùi công tử ghé bất chợt. Muội cũng bí mật xới thêm một luống bạc hà và một luống hương thảo trong không gian tâm linh, dự phòng cho những đơn hàng lớn sau này. Ta của kiếp trước hai mươi lăm năm mồ côi, ta chưa từng có gì gọi là dự phòng, nay có cả một khu vườn tâm linh dự phòng, ta cũng phải học cách nâng như nâng trứng.
Chiều muộn ngày rằm tháng bảy, mưa ngâu vừa dứt, đất sân còn ẩm, ngoài ngõ đột nhiên có tiếng vó ngựa lộp cộp. Không phải một con, mà là cả một đoàn, tiếng vó dồn dập đến nỗi cả đàn gà nhà ông Trịnh bay tung khỏi bờ dậu. Muội đang ngồi bên bậc cửa se chỉ khâu áo cho cha, giật mình nhìn ra ngoài ngõ tre. Bà hàng xóm bên trái nhà, bà Ba, tay còn cầm nửa nắm rau muống chưa nhặt, mồm há ra như cá chép nuốt phải hạt bồ kết. Bà rú lên một tiếng, quay vào hô cả thôn: “trời ơi, quan quân đến, quan quân đến sân nhà Trần rồi ơi!”
Cả thôn Đào Khê nghe hô là như vỡ chợ. Đàn ông bỏ cày, đàn bà bỏ rổ, trẻ con bỏ cả xâu cào cào đang nướng dở, chạy ùa về phía ngõ tre nhà muội. Muội đưa cha ra sân đứng đón. Cha muội hai tay sờ áo bố sờ mấy lần vẫn thấy áo mình có chỗ vá, cha luống cuống chưa biết đứng đâu. Mẹ muội chạy vội vào buồng thay tấm áo lụa vàng nhạt mẹ mặc ngày lễ tổ, tay còn cầm cái lược tre chải qua búi tóc muối tiêu. Đại ca bỏ cả xâu củi khô đang phơi, nhị ca thả cả rổ tôm suối, tam ca cũng vừa từ trấn về đến ngõ, ba huynh đứng nghiêm sau lưng cha như ba cây tùng nhỏ.
Đoàn quan quân dừng trước cổng gỗ. Đi đầu là một vị đội trưởng áo giáp da đen, đầu đội mũ sắt có ngù đỏ, tay cầm một cuộn giấy vàng đóng ấn son to bằng cái bát, phía sau là bốn tráng đinh áp tải hai hòm gỗ lim sơn đen buộc dây thừng đỏ đóng dấu triện Tấn vương phủ. Sau bốn tráng đinh là hai người lính vác trên vai một tấm biển gỗ dài chừng một sải tay, mặt biển phủ vải điều đỏ tươi, thắt nơ vàng ở hai đầu. Vị đội trưởng bước xuống ngựa, đứng thẳng trước sân, giọng vang như chuông trống: “Trần lão bá, chủ hộ Trần gia thôn Đào Khê, ra nghe chỉ.”
Cha muội trong lòng chao đảo như thuyền nan gặp gió lớn. Cha lóng ngóng bước ra giữa sân, quỳ xuống đúng theo lời chú Bảy chạy đến rỉ tai lúc nãy, tay cha đặt trên đầu gối run run như lá dâu ngoài nắng. Mẹ, ba huynh và muội đứng nép sau cha, cũng quỳ theo. Muội cúi đầu mà mắt vẫn liếc trộm, ta của kiếp trước xem không ít phim cổ trang, ta biết rõ nghi thức tuyên chỉ này, chỉ có điều ta chưa từng ngờ có ngày ta được quỳ nghe chỉ vàng trong sân đất nhà mình.
Vị đội trưởng mở cuộn giấy vàng, giọng đọc chậm rãi, từng chữ rõ ràng như đá lăn xuống lu nước. Đại ý là: mùa hè năm nay, Thế tử Tấn vương phủ Bùi Cẩn Nguyên đưa vào cung một trăm cây nến trầm hương của Trần gia thôn Đào Khê tiến cống lên hoàng thượng. Hoàng thượng dùng thử một đêm, sáng ra khen thứ hương này thanh mà sâu, ấm mà không nồng, ngửi vào thì phế khí thông, đờm khô lỏng, đầu óc nhẹ như vừa uống một chén trà mát. Hoàng thượng ngự bút phê rằng cơn bệnh phổi mãn dai dẳng nửa năm nay đêm nào cũng phải ho ba canh, đêm ấy đốt cây nến trầm hương của Trần gia liền ngủ được một giấc yên đến sáng, không ho một tiếng. Hoàng thượng long nhan đại duyệt, ban cho Trần gia hai trăm lượng bạc trắng và một tấm biển gỗ khắc bốn chữ vàng: Trầm Hương Thượng Phẩm. Từ nay Trần gia là hộ chế hương ngự dụng, hằng năm nộp cống hai trăm cây nến vào cung, được miễn tô thuế mười năm.
Đọc xong, vị đội trưởng cuộn giấy vàng lại. Hai người lính bước lên, tháo vải điều đỏ trên tấm biển gỗ. Bốn chữ vàng “Trầm Hương Thượng Phẩm” lộ ra dưới nắng chiều còn ẩm hơi ngâu, vàng rực như một dải mặt trời cuốn lại, nét chữ đài các, bố cục ngay ngắn, một nét khắc chìm sâu vào lòng gỗ hoàng đàn. Cả sân đất im phăng phắc. Cha muội quỳ giữa sân, hai tay run rẩy chống xuống nền đất ẩm, cha há miệng ra định nói cảm ơn mà không nói được câu nào. Nước mắt cha rơi lộp bộp xuống bàn tay chai sạm, rơi cả xuống nền đất, thấm vào một cách chậm rãi như nước mưa thấm vào rễ đào già bảy mươi tuổi trước sân.
Vị đội trưởng đặt cuộn giấy vàng và tấm biển gỗ xuống bàn tre giữa sân, hai hòm bạc cũng được tráng đinh khiêng đặt cạnh. Đội trưởng cúi đầu chào cha một cái đúng lễ, dứt khoát nhưng ấm áp: “Trần lão bá bình thân, chỉ đã tuyên, mọi thứ đã bàn giao xong. Thế tử phủ có thư riêng gửi lão bá và muội nhi, xin lão bá cứ đọc kỹ.” Nói rồi vị đội trưởng rút trong ngực áo ra một phong thư niêm son đỏ hình cánh trúc, đặt lên bàn tre bên cạnh tấm biển gỗ. Đội trưởng lại nghiêng đầu chào một cái nữa, quay ra dẫn quân về. Vó ngựa lộp cộp xa dần, chỉ để lại tấm biển gỗ, hai hòm bạc và cả một sân người đứng há hốc miệng.
Bà Ba là người tỉnh trước, bà buông rổ rau muống rơi lộp bộp xuống chân, bà rú lên một tiếng gọi cả thôn: “trời ơi, nhà Trần được vua khen, Bồ Tát ơi, Bồ Tát ơi.” Tiếng bà Ba như mồi lửa châm vào rơm khô, cả sân đất bỗng chốc râm ran tiếng người, ai cũng tranh nhau nói, ai cũng tranh nhau lay tay cha muội. Ông Trịnh bên phải nhà, ông Bảy đầu ngõ, ông thợ rèn xóm dưới, cô Hai đầu thôn, ai cũng chạy sang, mặt ai cũng đỏ như vừa uống nửa hũ rượu. Đại ca đứng nắm chặt tay muội, tay đại ca run run, đại ca cúi xuống thì thầm vào tai muội: “Kiều Kiều nhi, muội, muội có nghe rõ không, hai trăm lượng bạc, mười năm không thuế, Kiều Kiều nhi…” Giọng đại ca nghẹn lại, đại ca không nói tiếp được nữa, quay đi lấy mu bàn tay chai chai gạt nước mắt.
Muội nắm chặt lấy hai tay mẹ, mẹ cũng đang run. Ta ơi, hai trăm lượng bạc, hai trăm lượng bạc thật đấy à. Kiếp trước ta hai mươi lăm năm sống trong cô nhi viện, tổng cộng có bao giờ ta thấy hai trăm lượng bạc trắng nằm cùng một lúc trước mặt mình đâu. Nay hai hòm bạc đặt chình ình ở giữa sân đất, nắp hòm còn chưa mở, dây thừng đỏ đóng dấu triện Tấn vương phủ vẫn buộc chặt như hai vòng ôm ấm. Muội cắn môi, cắn thật chặt, cắn cho nước mắt đừng rơi ra, cắn cho lòng bàn tay đừng run. Ta phải bình tĩnh, ta phải bình tĩnh, ta còn cả một nhà đang chờ ta cứng cỏi hôm nay, ta không được khóc trước.
Cha muội tự tay đứng dậy, hai đầu gối cha kêu răng rắc như hai đoạn tre khô. Cha đưa tay run run vuốt tấm biển gỗ hoàng đàn, ngón tay cha lướt qua bốn chữ vàng “Trầm Hương Thượng Phẩm”, chậm chạp như đang vuốt tóc muội. Cha khẽ thở dài, tiếng thở dài mà đôi vai cha nhẹ hẳn đi như vừa trút cả một tảng đá đè cả đời. Cha bảo mẹ: “bà nó, thôi cả nhà mình vào thắp hương cho tổ tiên đã, có tổ tiên phù hộ cha mẹ mình mới có ngày này, cả nhà mình mới nuôi được con gái nhỏ này của mình.” Mẹ dạ vâng, mẹ vẫn còn đang chớp mắt liên tục cố nén, mẹ giục ba huynh khiêng hai hòm bạc vào giữa gian thờ.
Gian thờ nhà muội chỉ có một cái bàn tre nhỏ, trên bàn kê một bát hương đất, hai chén nước lã và một cái bài vị gỗ mộc do cha tự khắc. Cha muội đặt tấm biển gỗ “Trầm Hương Thượng Phẩm” dựng ngay ngắn trên bàn thờ, đặt cuộn giấy vàng và phong thư niêm son đỏ ngay bên cạnh. Cha châm hương, khấn ba bái. Cha khấn được nửa câu là giọng cha vỡ ra, cha quỳ luôn xuống nền đất, hai bàn tay chai sạm ôm mặt, khóc như một đứa trẻ con vừa bị mất trâu tìm lại được. Mẹ đứng bên cạnh vỗ vỗ vai cha, mẹ cũng khóc theo, hai vai mẹ rung lên như hai nhánh liễu gặp gió. Ba huynh đứng bên bàn thờ, đại ca cúi đầu, nhị ca cúi đầu, tam ca cúi đầu, ba huynh không ai dám khóc thành tiếng, chỉ có tiếng thở khẽ khàng.
Muội đứng ngay cửa gian thờ, nhìn cha khóc, nhìn mẹ khóc, nhìn ba huynh cúi đầu, mũi muội cay xè. Ta của kiếp trước hai mươi lăm năm không có ai để thắp hương, kiếp này cha muội thắp hương lại khóc cho một đứa trẻ bé xíu như muội. Muội bước vào, đứng cạnh cha, đưa hai tay bé nhỏ ôm cổ cha. Cha muội gục đầu vào vai muội, khóc thêm một hồi nữa, nước mắt cha ướt cả vai áo bố mới của muội. Muội vỗ vỗ lưng cha, giọng khẽ khàng ru như một bà mẹ dỗ con: “cha ơi, cha đừng khóc nữa, muội còn phải nghĩ cách mua ngói mới lợp lại mái nhà cho cha, cha khóc nhoè mất tấm biển vua ban thì cha lại tiếc.” Cha muội nghe muội nói vậy, bật cười trong nước mắt, hai tay cha ôm siết muội vào lòng, mùi mồ hôi cha ấm và khô như mùi rơm phơi ba nắng.
Cả nhà quỳ trước bàn thờ tổ tiên rất lâu. Ngoài sân, tiếng người thôn Đào Khê vẫn còn râm ran, ai cũng đứng chờ, không ai muốn về, ai cũng muốn được nhìn tận mắt tấm biển vua ban thêm một lần. Đại ca tự mình đứng ra tiếp bà con, đại ca chắp tay cảm ơn hết người này đến người khác, đại ca mời cả thôn ngày mai sang nhà uống chén nước lá vườn thay lời cảm tạ. Nhị ca chạy lên rừng chặt thêm mấy nhánh chuối non về lót sân. Tam ca lấy giấy bản viết một bảng chữ triện lớn “Kính mời chư vị bà con lối xóm tối mai mười lăm giờ đến sân nhà Trần dùng chén nước lá vườn”, dán ngay ngoài cổng tre. Muội thì lẩn vào bếp, ngồi lặng bên nồi nước sôi, cầm cái đũa cả khuấy khẽ.
Ta ơi, hai trăm lượng bạc, tấm biển vua ban, mười năm miễn thuế, hai hòm bạc còn nguyên dây thừng đỏ dưới bàn thờ. Kiếp này ta được cha mẹ nuôi mới có nửa năm, mà ta đã đền được cho cha mẹ chừng ấy, ta xứng đáng làm con gái nhà Trần chưa. Ta thầm nghĩ, chưa đâu. Mái tranh còn dột, đại ca còn tay chai bảy chỗ, nhị ca còn phải lội suối đêm câu tôm, tam ca đường xa lên Kinh Sư còn dài, mẹ vẫn còn ngồi vá chăn dưới đèn dầu leo lét, cha vẫn còn đứng chẻ củi trước sân sương sớm. Ta còn phải chế nhiều nến hơn nữa, khắc nhiều kẹp tóc bướm ngọc hơn nữa, mở nhiều đơn hàng lớn hơn nữa. Ta còn phải lo cả bí mật kia trong không gian, bí mật của mảnh giấy vàng ố trong hộp gỗ khảm trai. “Song Điệp phân đôi, một cánh trong tay Trần gia, một cánh trong tay đứa trẻ đã bị đánh tráo mười bốn năm trước.” Bùi công tử đã đi Kinh Sư gần hai tháng, chàng có tìm ra gì không, chàng gửi thư niêm son đỏ về, trong thư viết gì.
Muội nhớ đến phong thư niêm son đặt trên bàn thờ. Muội đặt cái đũa cả xuống, lẻn ra cửa bếp. Cha mẹ và các huynh vẫn đang tiếp bà con ngoài sân, muội len lén bước vào gian thờ. Muội với tay lấy phong thư niêm son đỏ, đưa lên ánh đèn dầu vàng leo lét, muội bóc dấu son ra thật khẽ. Bên trong là một tờ giấy bản mỏng, chữ Bùi công tử viết dài, đường bút thanh thoát mà vững như tre già:
“Muội nhi, hoàng thượng đại duyệt, bổn công tử cũng thở phào. Hai trăm lượng bạc là thưởng cho cha mẹ và các huynh của muội, tấm biển gỗ là để bảo vệ Trần gia sau này, không ai dám động tới nhà nghèo có biển vua ban. Bổn công tử ở Kinh Sư còn hai việc phải giải quyết, hai tháng nữa sẽ về. Muội nhi cứ yên tâm ở nhà, việc trong nhà mọi thứ đã có cha mẹ, việc ngoài nhà mọi thứ đã có bổn công tử. Có một chuyện muội nhi nên biết, đêm hoàng thượng đốt cây nến của muội, bà cụ nội ta cũng đã ngửi. Bà cụ ngửi xong khóc rất lâu, bảo mùi hương này giống hệt mùi trầm mà một người bạn cũ của bà, phu nhân Trấn phủ Ngô thị, thường chế cho bà ngửi mỗi khi bà mất ngủ. Mười bốn năm rồi bà không được ngửi lại. Muội nhi, đêm nay muội thử mở hộp gỗ khảm trai của muội một lần nữa xem, có lẽ thứ nến của muội chế và mùi trầm của phu nhân Ngô thị vốn có duyên. Bổn công tử tin muội có cách.”
Muội đọc thư xong, người muội đứng lặng như hoá thành đá. Ta ơi, chàng biết, chàng biết muội có hộp gỗ khảm trai. Chàng không hỏi muội học chế nến ở đâu, chàng không hỏi muội có không gian tâm linh hay không, chàng chỉ khẽ khàng bảo muội “thử mở hộp một lần nữa xem”. Chàng như một người biết muội đang chơi trò trốn tìm, chàng đứng ngoài cửa vẫn chỉ vỗ vỗ vào cửa nhắc muội: đến giờ ra rồi con nhé. Muội gấp phong thư lại, đặt cẩn thận trở lại vị trí cũ trên bàn thờ, chỉnh dấu son cho ngay ngắn như chưa từng ai bóc. Muội quỳ trước bàn thờ tổ tiên thắp thêm một nén hương, khấn khẽ trong lòng: tổ tiên ơi, đêm nay muội xin phép vào không gian một chuyến.
Đêm ấy nhà muội đông vui đến tận canh hai. Cả thôn Đào Khê ăn uống chung chén nước lá vườn trong sân đất, chuyện trò rôm rả về hai trăm lượng bạc, về tấm biển vua ban, về ngày cha mẹ già của Trần gia được người thôn kính như hai vị Bồ Tát. Đến gần nửa đêm bà con mới lục tục về hết. Mẹ dọn nốt mấy cái chén rồi cũng đi ngủ. Cha nằm trên giường tre gian ngoài, ôm cuộn giấy vàng vào ngực, ngủ mà miệng vẫn cười. Ba huynh trai ngủ ở gian nhị, tiếng ngáy đại ca đều đều như tiếng nước nhỏ giọt xuống lu. Muội nằm trên chiếc chăn bông vá bảy chỗ trong buồng, chờ đến khi tiếng ngáy đại ca thật đều mới khẽ khàng ngồi dậy, khoác thêm chiếc áo bông ngoài, chân đi hài cỏ nhẹ như bước mèo con.
Muội trốn ra sau nhà, ngồi dưới gốc đào già bảy mươi tuổi. Ánh trăng thượng tuần lành lạnh chiếu xuống mặt đất, sương sớm đầu canh ba đã bắt đầu tụ, đọng thành hạt li ti trên đầu ngọn cỏ. Muội khẽ nhắm mắt, ý niệm rung một cái, cả người liền chìm vào không gian tâm linh. Không gian ấy vẫn như mọi lần: khu vườn nhỏ ba sào, dòng suối trong, căn nhà gỗ ba gian, chỉ có điều đêm nay ánh sáng trong không gian dịu như trăng non, giá gỗ dựng dọc tường ánh lên màu vàng nhạt như mật ong loãng.
Muội bước vào gian thờ giả trong căn nhà gỗ, bàn đá vẫn ở giữa gian, hộp gỗ khảm trai vẫn nằm ngay ngắn trên bàn đá. Muội đưa hai tay bé xíu ôm hộp, khẽ nhấc nắp lên. Bên trong hộp vẫn là nửa cánh bướm ngọc lam khắc hai chữ “Song Điệp”, vẫn là tờ giấy vàng ố ghi ba chữ “nến trầm hương”. Muội đặt tay lên nắp hộp một hồi lâu, thầm gọi trong lòng: mẹ ơi, mẹ ruột kiếp trước ơi, đêm nay hoàng thượng đã đốt nến của con, bà cụ nội Tấn vương phủ đã khóc vì mùi trầm của phu nhân Ngô thị, mẹ có gì cần dạy con nữa không, mẹ mở khe cửa cho con thêm một lần nhé.
Muội vừa dứt lời trong lòng, hộp gỗ khảm trai đột nhiên rung nhẹ. Không phải rung do đất chuyển hay do tay muội chạm, mà là rung tự bên trong hộp, như thể có một sợi dây rất mảnh vừa được ai đó bên trong bật lên. Rồi một tiếng “lách cách” trong trẻo vang lên, tiếng “lách cách” nghe như tiếng chuông ngọc nhỏ ai đó gõ nhẹ trong đêm khuya, ngân dài, thanh mà ấm, ấm mà mảnh. Muội giật mình lùi lại nửa bước. Tiếng lách cách vang lên đúng ba nhịp, rồi đáy hộp gỗ khảm trai từ từ tách ra một khe nhỏ. Một ngăn ẩn muội chưa từng thấy lộ ra, ngăn ẩn ấy sâu chừng một đốt ngón tay út, khảm lụa vàng nhạt trong lòng.
Muội run run cúi xuống nhìn. Trong ngăn ẩn có hai thứ. Một là nửa cánh bướm ngọc thứ hai, cánh này khác cánh muội đang giữ, cánh này khắc chữ “Song Điệp” ngược chiều, cạnh cánh chạm nét chi ly như vẩy cá con, ngọc lam đậm hơn nửa cánh muội đang có, có ánh trăng non khảm chìm trong lòng cánh. Hai là một phong thư nhỏ, giấy đã ố vàng, niêm bằng sáp son đỏ hình cánh trúc y như phong thư Bùi công tử vừa gửi hôm nay, chỉ có điều dấu son đã cũ lắm, cũ đến mức muội chạm nhẹ vào là hạt sáp son khẽ vỡ ra một chút.
Muội ngồi phịch xuống nền đá lạnh. Muội đưa hai bàn tay run run cầm nửa cánh bướm ngọc thứ hai, đặt bên cạnh nửa cánh bướm ngọc thứ nhất trên bàn đá. Hai nửa cánh nằm cạnh nhau, ánh sáng dịu trong không gian tâm linh chiếu xuống, muội nhìn rõ: hai nửa cánh không khớp nhau, hai cánh là hai cánh khác nhau của cùng một đôi bướm. Tức là ở đâu đó, còn một nửa cánh nữa nằm trong tay đứa trẻ đã bị đánh tráo mười bốn năm trước, đứa trẻ ấy mới chính là chủ nhân của nửa cánh thứ hai này. Ta ơi, ta của kiếp trước hai mươi lăm năm cô độc, ta đâu ngờ kiếp này lại có ngày ngồi trong một không gian tâm linh giữa đêm khuya, cầm hai nửa cánh bướm ngọc mà bàn tay ta nhỏ đến mức không nắm đủ.
Muội đưa mắt sang phong thư niêm son cũ. Trên mặt phong thư có ba chữ nhỏ như đầu kim: “gửi con gái”. Ba chữ ấy khiến muội tê cả sống lưng. Ta chưa mở, nhưng ta đã biết thư này là của phu nhân Trấn phủ Ngô thị năm ấy gửi cho con gái ruột của bà. Mà con gái ruột của bà đêm ấy đã lạc mất giữa cơn hoả hoạn mười bốn năm trước ở Trấn phủ Kinh Sư, con gái ruột ấy có phải chính là ta trong thân xác Kiều Kiều nhi hôm nay không, hay là một ai khác nữa. Ta không dám bóc thư, ta không dám. Ngón tay ta chỉ khẽ lướt qua dấu son cũ đỏ, gieo gió gặt bão, có những cơn gió ta chưa gieo ta vẫn phải nhận, có những cơn bão ta chưa gọi ta vẫn phải đón.
Ngoài không gian, trên gốc đào già bảy mươi tuổi, con mèo đen của nhà bác Ba trèo qua bờ rào, đôi mắt vàng long lanh trong đêm nhìn cô bé Trần Kiều Kiều đang ngồi bất động dưới ánh trăng, hai bím tóc đen buông trước ngực. Sương sớm bắt đầu tụ trên tóc muội, mỏng như tơ nhện, ướt lấm tấm. Trong không gian tâm linh, muội ngồi trước bàn đá, hai nửa cánh bướm ngọc nằm bên trái, phong thư niêm son cũ đặt bên phải, tiếng chuông ngọc còn khe khẽ dư âm trong lòng hộp. Muội thầm khấn: mẹ ơi, đêm nay con chỉ ngồi bên hai nửa cánh với phong thư này thôi, con chưa mở thư đâu, con để dành thư này đợi Bùi công tử về. Nhưng con hứa với mẹ, dù con là đứa trẻ nào bị đánh tráo, dù cánh bướm thứ ba nằm trong tay ai, con của kiếp này vẫn là con gái của cha mẹ Trần gia trước đã, chuyện khác tính sau, trắng đen phải rõ.