Muội Là Công Chúa Nhà Nghèo

Chương 17: Trạng Nguyên Trở Về

Sáng tháng tám, sương thu buông xuống thôn Đào Khê mỏng như một tấm khăn voan cũ ai bỏ quên trên hàng rào tre.

Muội trở dậy sớm hơn thường lệ, chỉ vì đêm qua trong không gian tâm linh muội còn ngồi bên hộp gỗ khảm trai đến quá canh ba, tay ấp nửa cánh bướm ngọc thứ hai vừa hé lộ từ ngăn đáy, mắt đọc đi đọc lại bức thư niêm son thứ tự chữ chưa quen. Muội chưa dám mở dấu son, chỉ mới cầm lên ngửi thấy mùi mực cũ trộn với mùi sáp, có hơi giống mùi trầm nhưng phảng phất một chút mằn mặn như nước mắt ai để lâu ngày quên khô. Ta nghĩ mãi vẫn không biết bức thư này ai gửi ai, chỉ biết trong lòng có một dây tơ nhỏ vừa được kéo lên, run rẩy, không biết đầu kia buộc vào đâu.

Ra khỏi không gian, muội ngồi thừ trên nan giường tre một lát, hai chân bé xíu buông thõng chưa chạm đất. Cha ngáy đều đều bên chái nhà, mẹ trở mình lẩm bẩm gì đó trong mơ, nhị ca đầu tóc rối bù nằm gác một chân qua đại ca ngủ mê không biết, chiếc chăn bông vá bảy chỗ chỉ đủ trùm được hai người. Muội cầm chéo áo mẹ kéo lên đắp lại cho mẹ tới cằm, rồi mới rón rén xỏ đôi hài cỏ đại ca bện, len lén ra sân.

Sân đất ẩm ướt, sương đọng thành hạt trên lá cỏ, đạp lên bàn chân bé lành lạnh mà thấm. Con mèo mướp nhà bà Ba từ đâu chui qua kẽ rào chạy tới, dụi đầu vào cổ chân muội một cái, kêu meo meo nhỏ như đứa trẻ đòi ăn. Muội cúi xuống xoa đầu nó, giọng thì thầm: “mèo con ngoan, mèo con ăn xong muội sẽ chia cho một miếng cá khô để dành từ hôm chợ, muội hứa đấy.” Con mèo hình như nghe hiểu, dụi má vào lòng bàn tay muội thêm một cái nữa rồi mới chịu chạy qua bếp lửa lụi.

Trời đông thu, gió lay lay tán đào già bảy mươi tuổi trước sân, mấy chiếc lá vàng rụng lả tả xuống mái tranh mới vá tuần trước bằng nửa lượng bạc muội bán nến để dành. Mái tranh vẫn còn dột một chỗ nhỏ ở gian bếp, nhưng cha đã hẹn qua rằm là gọi bác thợ trong thôn ra thay hẳn bằng ngói đỏ, cha bảo phen này phải làm cho ra làm, không thể để đứa nhỏ mùa đông tới nữa còn phải kê chậu hứng nước dột. Muội nghe cha nói mà lòng ấm như củ khoai nướng vùi trong tro bếp, thầm nghĩ: kiếp trước hai mươi lăm năm ta ở trong căn phòng thuê chật, mưa gió cửa kính đóng chặt mà cũng vẫn thấy lạnh, kiếp này mái tranh dột một lỗ mà cả nhà đắp chăn ngủ chung một gian ta lại thấy như đang ngồi bên bếp trầm hương.

Muội đang ngồi xổm gom mấy chiếc lá đào rụng bỏ vào cái rá tre thì nghe tiếng vó ngựa lộp cộp từ đầu ngõ. Không phải một con, mà là hai con, chạy nước kiệu đều tăm tắp, gõ vào con đường đất khô một nhịp lạ, cả thôn Đào Khê buổi sớm chưa từng có ai đi hai ngựa như thế. Muội ngẩng lên, tay còn nắm nửa nắm lá đào, hai bím tóc đung đưa hai bên má tròn.

Từ đầu ngõ, hai người áo xanh nhạt phóng ngựa vào, một người là truyền lệnh của quan huyện Thanh Châu, một người là học trò cùng quán trọ với tam ca. Trên yên ngựa buộc một tấm biển đỏ nhỏ có viền vàng, chữ mực đen còn ướt mưa sương: Trần Thanh Vân, Giải Nguyên toàn trấn Thanh Châu, Đại Ninh thập tứ niên.

Con ngựa chưa kịp dừng hẳn, người truyền lệnh đã hô lớn: “Trần lão bá, Trần đại nương, tin mừng, tin mừng lớn, tam công tử Trần Thanh Vân đỗ Giải Nguyên đầu bảng!”

Tiếng hô ấy vang một cái, cả thôn Đào Khê như bát cháo đang lăn tăn được ai gõ vào một cái, mặt cháo bỗng nổi sóng. Mẹ muội đang trong bếp, tay đang cầm cái đũa cả khuấy nồi cám lợn, nghe thấy tiếng người truyền lệnh liền buông đũa xuống, chạy ra cửa, đôi chân đi hài vải chao đảo. Cha muội từ nan giường tre bật dậy như bị lửa đốt, chưa kịp buộc dải rút quần đã lao ra sân, tóc bạc rối bù, hai mắt còn mờ ngủ mà miệng đã ú ớ không thành tiếng. Đại ca vừa dậy chưa kịp rửa mặt, tay còn dính bồ hóng bếp, đại ca thấy tấm biển đỏ thì đứng khựng ngay giữa sân, cả người run bần bật như tấm áo tơi vấp gió. Nhị ca cuối cùng cũng chạy ra, tay còn cầm cái nạng cắt cỏ dùng dở, thấy biển đỏ thì buông nạng đánh cạch một cái xuống nền đất, cả người ngơ ra như tượng thổ.

Muội đứng bên chân cha, ngước mắt nhìn tấm biển đỏ. Tim muội đập nhanh một nhịp lạ, nước mắt trồi lên khoé mắt không kịp nuốt xuống. Cả kiếp trước hai mươi lăm năm ta chưa từng biết cảm giác một người thân của mình được xướng danh, kiếp này ta chỉ mới sáu tuổi mà đã cảm nhận cái ấm rần rần từ bụng dâng lên tận đỉnh đầu, ấm đến độ hai lỗ mũi cay xè, hai vành tai đỏ ửng như cà chua chín.

“Cha ơi, tam ca đỗ Giải Nguyên rồi,” muội kéo tay cha, giọng vỡ ra như hạt đường phèn tan trong bát cháo nóng. “Cha ơi cha, tam ca của muội đỗ đầu bảng cả trấn Thanh Châu rồi.”

Cha muội quay lại, hai bàn tay chai sạm ôm chặt lấy hai vai bé nhỏ của muội, mắt cha ướt như hai giọt sương đọng trên lá đào. Cha há miệng muốn nói gì đó mà không thành tiếng, chỉ có hai tiếng “Kiều Kiều nhi” vỡ ra khe khẽ rồi tan trong cổ họng. Cha cúi xuống bế bổng muội lên vai, quay vòng một cái ngay giữa sân đất, tấm áo bố cũ bay phần phật, ba huynh trai đứng vây quanh không ai kịp nói câu gì, chỉ có tiếng mẹ nức nở phía sau bếp bay tới, tiếng khóc mà lại như tiếng cười, tiếng cười mà lại như tiếng khóc.

Bà hàng xóm bên phải chạy sang trước, tay còn cầm cái rổ vừa cắp thau đậu, miệng oang oang: “cha con thằng Trần, phúc lớn phúc lớn nhé, cả cái thôn Đào Khê này bao đời nay có thấy đứa nào đỗ Giải Nguyên đâu, huống hồ lại là con trai nhà mình!” Bà Ba từ phía cuối ngõ chạy tới, chân còn đi lệch bên cao bên thấp vì vội, miệng cứ ríu rít: “Trần lão bá ơi, mau đốt hương thắp trước bàn thờ tổ, đây là tổ tiên thiêng đấy nhé, chín đời tích phúc mới có được ngày hôm nay!”

Cả cái ngõ nhỏ chật ních người ta, có ông cụ chống gậy chạy tới, có bà bế cháu ra, có mấy đứa nhỏ cởi trần chạy vòng quanh sân hò reo. Cha muội đứng giữa sân, hai tay ôm muội, chân còn không biết đứng thế nào cho vững. Người ta ai cũng nhét vào tay cha một cái gì đó: bà Ba nhét cái bánh gói lá chuối, ông cụ nhét mấy trái táo mèo, bà hàng thịt đầu chợ chạy tới cầm theo cả nửa cân thịt ba chỉ còn quấn dây chuối, dí vào tay mẹ, miệng nói không lấy tiền không lấy tiền, coi như bà mừng cho tam công tử.

Muội ngồi trên vai cha nhìn xuống, thấy cả thôn ai nấy đều cười, cười đến mức hai khoé mắt cũng nheo lại. Ta thầm nghĩ, thế gian này chảy làng gặp lượng, có những lúc chỉ cần một tin vui là cả một xóm nghèo bỗng như được rót thêm một ngụm mật vào bát cháo trắng, ngọt lây cả xóm giềng.

Người truyền lệnh trao tấm biển đỏ cho cha, còn kèm theo một dải lụa vàng thêu chỉ đen, dặn cha treo lên cổng nhà cho cả tổng cùng biết. Ông ta cười hà hà, không quên chuyển lời quan huyện: “Trần lão bá, tam công tử ba ngày nữa sẽ về nhà nghỉ chín ngày, sau đó lên phủ dự thi Hội thí năm sau, quan huyện có gửi nửa xâu tiền lộ phí cho tam công tử, coi như trấn Thanh Châu ta cũng có phần chăm sóc anh tài của tổng.” Cha muội chỉ biết cúi đầu vâng dạ, hai bàn tay run run cầm dải lụa vàng, đại ca thay cha ra tiễn hai người ngựa ra khỏi ngõ.

Cả nhà cả thôn còn đứng hò reo, mẹ đã kéo tay muội đi vào bếp. Mẹ vừa đi vừa lau nước mắt bằng vạt áo bố nâu, giọng còn nghẹn: “Kiều Kiều nhi, muội ngoan, muội đi lấy hộ mẹ cái nồi đất to nhất, cái nồi mẹ giấu trên gác bếp ấy, mẹ phải nấu một nồi chè đường phèn to nhất từ trước tới nay, mẹ phải nấu cho cả thôn cùng ăn, mẹ phải nấu cho tổ tiên thấy nhà mình có phúc, mẹ phải nấu…” Mẹ nói mà tay đã lôi từ cái chum sành bên bếp ra nửa bát gạo nếp trắng ngần được mẹ giấu từ tận Tết, ra một xâu đường phèn vàng óng trên trời rơi xuống (thật ra là muội mua từ chợ Thanh Châu lần trước, mẹ dành mãi không nỡ dùng), ra thêm một nhúm đậu đỏ, một nắm nấm hạt sen tam ca hái từ chùa Đại Bi mùa xuân.

Muội leo lên cái ghế tre thấp, kiễng chân lấy cái nồi đất to nhất trên gác bếp xuống. Cái nồi ám khói đen nhẻm, mẹ vẫn cưng như báu vật, cả đời cha mẹ chỉ dùng đúng ba lần: một lần đại ca ra đời, một lần tam ca đỗ tú tài, và giờ là lần thứ ba. Muội đặt nồi lên bếp, cha đã chạy vào chẻ củi khô, đại ca bổ giúp mẹ đôi ba nhánh, nhị ca chạy sang bà Ba mượn cái sàng cỡ lớn. Cả cái bếp bé xíu bỗng chốc chật ních người, tiếng cười tiếng nói lẫn với tiếng lửa reo, mùi đường phèn tan lẫn với mùi nếp mới, khói bốc lên chầm chậm bay qua mái tranh mới vá, ra tận khu sân trước có mấy con gà mái đang mổ thóc.

Muội ngồi bệt xuống cạnh bếp, hai tay vòng qua đầu gối, ngước lên nhìn mẹ. Bóng mẹ in lên vách bếp trong ánh lửa hồng, tay mẹ khuấy nồi chè đều tay, tóc mẹ búi cao lộ ra cái gáy chai nhuộm nắng đồng nhiều năm. Kiếp trước ta không có mẹ, kiếp này ta có mẹ, có một cái gáy chai lam lũ như thế in bóng lên vách bếp, ta thấy đủ ấm cả một cái mùa đông chưa tới rồi.

Chè chín tới độ, mẹ múc ra ba mươi cái chén sứ mẻ, để dàn hàng trên bàn tre, mỗi chén đầy có ngọn. Mẹ bảo muội đi mời bà Ba, mời bà hàng xóm, mời ông cụ đầu ngõ, mời cả cha con nhà bác Trịnh cũ mà đại ca đi làm thuê, mời cả những người trong tổng nghèo hơn nhà mình mà hôm nay tới chúc mừng chân thành nhất. Muội chạy đi chạy về, hai bím tóc đung đưa, mỗi chén chè muội bưng đi đều được người ta nhận bằng hai tay run run, có bà cụ còn khóc, có ông già còn quay đầu che mặt. Cả cái ngõ nhỏ ngào ngạt mùi đường phèn nếp mới, có thể nói cả cái thôn Đào Khê hôm ấy được ăn một bữa chè đường phèn ngọt nhất trong đời.

Còn thừa lại đúng bảy chén chè, mẹ chia đều cho cha, mẹ, ba huynh trai, muội, và một chén để riêng cho tam ca khi tam ca về. Muội húp một hớp chè, đường phèn tan trong miệng ngọt lịm, hạt nếp mềm nhũn dính vào răng cửa. Ta thầm than: kiếp trước hai mươi lăm năm ta chưa từng biết đường phèn nếp có mùi vị này, kiếp này chén chè bé bằng lòng bàn tay mà ngọt hơn tất cả những cái bánh sinh nhật kiếp trước ta tự thổi nến một mình.

Ba ngày sau, tam ca về.

Chiều muộn, khi mặt trời đã treo lơ lửng sau ngọn núi phía tây, sương lại buông từng lớp mỏng xuống lối đi đất đỏ, muội nghe tiếng chân đi trên đá cuội ngoài ngõ. Muội đang ngồi bên bàn tre khắc ngọc lam bằng dao tre, ngẩng lên thì thấy dáng người quen thuộc hiện ra sau hàng rào tre, gầy hơn, cao hơn một chút, tay xách một cái tay nải nhỏ, lưng đeo cái ống trúc đựng giấy tờ. Chính là tam ca Trần Thanh Vân.

Muội buông ngay dao tre, chân đất chạy ra, tiếng “tam ca” hét lên vang cả sân, hai bím tóc đung đưa loạn xạ, cái áo bông vá tám mảnh cứ thế bay phần phật sau lưng. Muội lao thẳng vào chân tam ca như chú mèo con thấy chủ về sau ba ngày đi xa, ôm chặt lấy ống quần bố nâu, ngước đôi mắt tròn nhìn lên.

Tam ca cúi xuống, một tay chống lên đầu gối, tay còn lại đặt lên tóc muội, xoa nhẹ. Bàn tay tam ca thon dài, khớp ngón hơi lộ, không phải bàn tay nông dân ba đời của nhà Trần chút nào. Nhưng bàn tay ấy ấm, ấm như bát cháo mới nấu, ấm như đèn dầu trong đêm đông. Tam ca cười, ánh mắt sáng như đèn dầu vừa châm bấc mới, giọng dịu như trà hoa cúc phơi ba nắng: “muội nhi, tam ca về rồi, muội có ngoan không, có nghe lời cha mẹ và các huynh không, có ra vườn một mình không đấy.”

Muội lắc đầu quầy quậy, hai bím tóc đung đưa, môi bĩu ra như một đứa trẻ ba tuổi. “Muội có ngoan, tam ca đừng lo, muội có nghe lời cha mẹ, muội có ăn thêm hai chén cơm mỗi bữa, muội có mập lên nửa cân đấy tam ca xem, tam ca kìa, tam ca gầy đi rồi, tam ca có phải ngủ không đủ giấc không.” Muội vừa nói vừa vỗ vỗ vào bụng tam ca qua lớp áo bố, thấy hõm đi nhiều so với ba tháng trước. Trong lòng muội quặn lên một cái, lại lo lại xót, chỉ hận không cầm ngay được nồi chè đường phèn hôm ba ngày trước bón cho tam ca ăn hết cả bảy chén.

Cha mẹ và hai huynh đã ra tới, ai nấy đều mắt đỏ hoe. Cha ôm tam ca một cái thật chặt, cha vừa ôm vừa vỗ vai tam ca ba cái, không nói gì, chỉ có nước mắt lăn xuống râu bạc. Mẹ khóc oà lên, mẹ ôm tam ca xoay vòng, mẹ nắn từ đầu tới chân xem có sứt mẻ chỗ nào không, mẹ mắng yêu tam ca sao gầy thế sao gầy thế, mẹ nói muội nhi bảo đúng, muội nhi luôn luôn đúng, mẹ phải bồi bổ cho tam ca liền tay. Đại ca đấm tam ca vào vai một cái, không nói năng gì, chỉ có bàn tay chai đặt lên đầu tam ca vuốt tóc như hồi tam ca còn tám tuổi. Nhị ca cuối cùng, chỉ nắm cổ tay tam ca xem có sứt sát gì không, rồi lặng lặng cầm cái tay nải đưa vào nhà.

Đêm ấy, mẹ nấu nồi cháo gà, thịt gà con nhà bác Ba mang biếu buổi sáng, mẹ cắt cả con nấu một nồi to. Cả nhà ngồi quanh bàn tre, đèn dầu leo lét, cha chan cho tam ca một bát đầy có ngọn, mẹ gắp riêng đùi gà bỏ vào bát tam ca, đại ca gắp lườn gà cho muội, nhị ca vặt riêng cái cổ gà cho mình cắn, tam ca lại gắp một miếng thịt đầu gà bỏ lại vào bát mẹ, mẹ lại gắp trả lại tam ca, cứ thế qua đi qua lại, đũa gõ vào bát lanh canh, tiếng cười cứ đầy dần lên trong gian nhà tranh vá.

Sau bữa cơm, cả nhà ngồi bên đèn dầu nghe tam ca kể chuyện thi cử. Tam ca kể chuyện quan chủ khảo khắt khe thế nào, kể chuyện quán trọ đến độ hết mực phải nhúng bấc đèn dầu vào nồi than để có thứ gì đen đen mà viết, kể chuyện cùng một học trò gầy còm chia nhau nửa cái bánh mì trong đêm áp thi. Muội ngồi trong lòng cha, đầu tựa lên vai cha, nghe tam ca kể mà lòng vừa xót vừa tự hào. Ta thầm nghĩ, tam ca kiếp này chưa biết mình từ đâu tới, chỉ biết cứ cắm cúi học, cứ cắm cúi thi, cứ cắm cúi lo cho cả nhà, giá gì ta có thể mở lòng ra ôm tam ca một cái thay cho tất cả những đêm tam ca một mình trong quán trọ lạnh.

Tam ca kể xong, chậm rãi mở tay nải nhỏ, lấy ra một cái hộp trúc dài bằng gang tay, buộc dây gai. Tam ca đặt cái hộp trước mặt muội, ánh đèn dầu vàng hắt lên đôi mắt tam ca sáng như hai giọt trăng non đọng lá tre. Giọng tam ca dịu nhẹ, có hơi run: “muội nhi, cái này tam ca nửa lượng tiền thưởng đầu tiên mua cho muội, muội nhận đi.”

Muội mở hộp trúc, bên trong lót một mảnh vải xanh nhạt, đặt trên vải là một cây bút lông cán trúc, đầu cán chạm một hạt ngọc lam bé bằng đầu ngón út, xanh sâu như đáy giếng nước đầu xuân. Ta của kiếp trước học ngành mỹ nghệ, ta chỉ liếc một cái là biết cây bút này lông chồn thượng phẩm, cán trúc chọn từ vùng Tương Nam, ngọc lam là ngọc thứ thật khảm chìm chứ không phải dán, cây bút này ít ra cũng đáng nửa lượng bạc nữa nếu tính công chạm. Tam ca dốc túi mua cho muội, tam ca ăn bánh mì khô giữa đêm áp thi để đủ tiền mua cho muội cây bút này.

Muội cắn môi, nước mắt trào ra không cách nào giữ được. Kiếp trước hai mươi lăm năm ta chưa từng có ai tặng ta một cây bút. Kiếp trước ta tự mua cây bút đầu tiên bằng số tiền học bổng khi lên đại học, mua trong một cửa hàng chật chội đầu phố, không ai đứng cạnh cười với ta. Kiếp này ta có tam ca, tam ca gầy đi nửa cân vì đêm áp thi ăn nửa cái bánh mì, mà tam ca vẫn dốc túi tiền thưởng đầu tiên mua cho ta một cây bút lông cán trúc chạm ngọc lam. Ta cầm cây bút trong tay, mềm mại như một sợi mưa xuân, mà nặng như một quả núi.

“Tam ca ơi,” muội thều thào, nước mắt lăn xuống hai bên má lấm bồ hóng bếp, “tam ca ơi, muội không xứng nhận cây bút đẹp thế này, tam ca giữ lại mà dùng, tam ca thi Hội cần bút tốt lắm.”

Tam ca lắc đầu, tay tam ca xoa tóc muội chậm rãi. “Bút của muội, muội phải nhận, tam ca đã có bút khác. Muội phải tập viết chữ, muội thông minh trời sinh, sau này muội có thể tự viết được sổ hàng, tự đối được câu đối Tết cho cha mẹ. Tam ca chỉ mong sau này về đây thấy muội có thể viết được ba chữ Trần Kiều Kiều đẹp như thầy đồ dạy chữ trong tổng, thế là tam ca mãn nguyện rồi.”

Cha mẹ ngồi bên, không ai nói câu nào, chỉ có mẹ khe khẽ đưa vạt áo lên chấm khoé mắt. Đại ca gật gù, đôi mắt đỏ hoe, nhị ca gõ nhẹ vào bàn tre một cái coi như tiếng hò reo trong lòng. Cả gian nhà tranh vá bảy chỗ dưới ánh đèn dầu leo lét bỗng ấm hơn bất cứ cung điện nào trong sách sử ta từng đọc.

Đêm khuya, tam ca đi ngủ trước, cả nhà cũng lần lượt lên giường. Muội ngủ chung giường với mẹ, nhưng canh ba muội tỉnh vì nghe tiếng ho khe khẽ bên chái nhà. Muội ngồi dậy, xỏ hài, cầm cái đèn dầu nhỏ, len lén đi qua chái nhà nơi tam ca nằm. Tam ca đắp cái chăn bông cũ nhất, cái chăn ấy vá chín chỗ, bông đã lộ ra ngoài lớp vải bố. Muội đặt tay lên trán tam ca, chao ôi nóng như hòn than trong tro. Tam ca sốt, sốt vì đường xa mười dặm không nghỉ, sốt vì ba tháng ăn không đủ ngủ không đủ. Muội cắn môi, quay đầu chạy về gian trong lấy cái chăn bông của muội, cái chăn dày hơn có thêm lớp bông mới mẹ vá tuần trước, muội mang sang đắp cho tam ca.

Muội cẩn thận vén góc chăn cũ ra, đặt chăn bông của muội trùm bên ngoài. Tay tam ca thò ra ngoài chăn hơi mảnh, muội nhẹ nhàng đặt tay tam ca vào trong chăn, che kín tận cổ. Đèn dầu chỉ leo lét một góc, muội ngồi xổm bên giường tam ca, hai tay chống cằm nhìn tam ca thở đều đều. Trong lòng muội chợt dâng lên một câu thầm: kiếp này ta có tam ca, kiếp này ta không để tam ca sốt một mình trong đêm nữa.

Muội định đứng dậy đi kiếm khăn thấm nước lạnh lau trán cho tam ca thì tay muội vô tình chạm phải một góc gối. Cái gối của tam ca cứng một góc, không phải cứng của bông cũ, mà cứng của một vật hình chữ nhật nhỏ. Muội nhíu mày, khẽ khàng lật gối lên, không muốn đánh thức tam ca.

Dưới gối, có một cái túi vải xanh nhỏ, được khâu tay bằng chỉ đen cẩn thận, cỡ bằng lòng bàn tay muội. Muội cầm cái túi lên, tim đập một nhịp lạ, chỉ mới cầm mà đã biết bên trong không phải giấy tờ, không phải tiền, mà là một vật cứng nhỏ, có góc, có ngọc.

Muội hé miệng túi, dốc ra lòng bàn tay bé xíu.

Một cái kẹp tóc bướm ngọc rơi ra.

Muội nín thở.

Cái kẹp bằng ngọc lam, cánh mỏng như sương sớm, thân cánh khắc chìm hai chữ Song Điệp bằng nét khắc mảnh như tơ nhện. Ngọc lam đậm hơn ngọc lam trong hộp gỗ khảm trai của muội một chút, có ánh trăng non chìm bên trong lòng cánh nếu nghiêng qua ánh đèn dầu. Muội chỉ nhìn một cái là biết ngay, đây không phải cái muội tự chế bằng ngọc vụn nhặt suối, đây là cái được chạm bởi một tay thợ thượng thừa của Kinh Sư, đây là kỷ vật.

Đây là cánh phải của Song Điệp.

Muội quay đầu nhìn tam ca đang thiêm thiếp trong cơn sốt, hơi thở của tam ca nhẹ như một hơi mưa xuân. Muội đưa tay áp lên trán tam ca lần nữa, vẫn nóng, nhưng đã bớt hơn lúc đầu. Muội cầm cái kẹp trong tay bé xíu, nghiêng qua ánh đèn dầu, cánh bướm khảm trăng non hắt lên vách bếp một cái bóng bướm mỏng như sương chưa tan.

Muội đặt cây bút lông cán trúc chạm ngọc lam tam ca vừa tặng xuống bên gối tam ca, nhẹ nhàng bỏ cái kẹp bướm ngọc vào túi vải xanh, để lại dưới gối. Rồi muội đứng dậy, rón rén trở về gian trong, cầm theo đèn dầu và cả cái kẹp tóc bướm ngọc muội đã lén cất từ hộp gỗ khảm trai từ tối qua ra túi áo bông.

Muội ngồi xuống bàn tre nan, đặt đèn dầu ở giữa, lấy cả hai cánh bướm ngọc ra đặt cạnh nhau trên mặt bàn.

Tay muội run.

Muội chậm rãi đưa hai cánh vào gần nhau. Cánh trái muội đã cất bấy lâu trong không gian tâm linh, cánh phải vừa lấy từ dưới gối tam ca. Ngón tay bé xíu run run xoay góc, ghép mộng, dán khớp.

Cạch.

Một tiếng rất khẽ, chỉ có mình muội nghe, như tiếng ngọc chạm vào ngọc dưới đáy giếng đầu xuân.

Hai cánh khớp lại thành một con bướm ngọc trọn vẹn đủ đôi, đường vân trên cánh trái tiếp mạch không sai lệch một đường tơ vào cánh phải, hai chữ Song Điệp khắc chìm ghép lại nằm chính giữa thân bướm, dưới ánh đèn dầu leo lét hắt lên vách gỗ, cả con bướm ngọc như đang khẽ khàng vẫy đôi cánh muốn bay lên khỏi mặt bàn tre gãy chân bà kê bằng viên gạch mẻ.

Muội ngồi thừ ra một lúc lâu, hai tay bé xíu ôm lấy con bướm trọn vẹn, tim đập loạn xạ trong lồng ngực bé chỉ bằng nắm tay của mẹ. Bí mật muội đọc trên đáy hộp gỗ khảm trai từ hôm mới xuyên vào Đào Khê, bí mật muội đọc trên tờ giấy vàng ố đêm tam ca đi thi, bí mật lộ ra thêm một dòng chữ trên ngăn ẩn cách đây một đêm, bí mật bức thư niêm son chưa dám mở, giờ tất cả gộp lại thành một câu mà muội không dám nói ra ngay cả trong bụng: tam ca của muội, người ngồi kia đang sốt trong cái chăn bông vá chín chỗ, người dốc túi tiền thưởng đầu tiên mua cho muội cây bút lông cán trúc chạm ngọc lam, người xưng “cha ơi mẹ ơi” với cha mẹ Trần gia mười bốn năm nay, người ấy hoá ra không phải máu mủ ruột thịt của cha mẹ Trần gia, người ấy hoá ra là đứa trẻ bị đánh tráo mười bốn năm trước, chính là đứa trẻ mà tờ giấy vàng ố nhắc tên.

Muội cắn môi thật chặt, nước mắt lăn xuống hai bên má không kịp lau.

Ngoài chái nhà, tam ca ho một tiếng khe khẽ trong cơn sốt, kéo chăn bông trùm cao hơn tới cằm.

Muội run tay đặt con bướm ngọc trọn vẹn vào lòng bàn tay, giơ lên trước đèn dầu, cả căn nhà tranh vá tám chỗ như đang giữ hơi cùng muội. Ánh đèn dầu chiếu qua ngọc lam trong veo, hắt lên vách bếp một cái bóng bướm to bằng cái nắm tay của mẹ, đôi cánh dập dờn theo nhịp gió lay ngọn đèn dầu.

Ta của kiếp trước cô độc hai mươi lăm năm, kiếp này ta có cả một nhà đông đúc, có ba huynh trai, có cha có mẹ, ta cứ ngỡ đã trọn vẹn rồi.

Nào ngờ trên đầu bàn tre, dưới ngọn đèn dầu, con bướm ngọc trọn vẹn đủ đôi đang vẫy đôi cánh mà nói với ta: chưa trọn vẹn đâu muội nhi, chưa trọn vẹn đâu.

Vì tam ca của muội, tam ca của cả nhà, thật ra còn có một người mẹ ruột đang ngủ dưới suối vàng lạnh mười bốn năm trời, đêm nào cũng đợi một tiếng “mẹ ơi” chưa từng được gọi.