Muội Là Công Chúa Nhà Nghèo
Chương 2: Cha Ơi Đắp Chăn
Sáng mùa xuân, sương xuống lấm tấm trên mái tranh, mỏng như một lớp bột đường phèn ai đó rắc lên trong lúc muội ngủ. Trời chưa sáng hẳn, mới chỉ có một dải xanh nhạt hé ra ở đầu vườn phía đông, hắt xuống mảnh sân đất nện một quầng nhờ nhờ như bụng con cá bống. Gà trong chuồng còn chưa gáy, chỉ có một chú chim sẻ nào đó nghịch ngợm dậy sớm, đậu trên mái, kêu chíp chíp mấy tiếng rồi lại thu chân đứng im, có lẽ chú cũng lạnh.
Muội chưa mở mắt vội. Muội chỉ nghe.
Trong bóng tối ở sát vai muội, có tiếng chỉ khâu đâm qua vải bông rất khẽ, sịt sịt, sịt sịt, đều đặn như tiếng con mèo con thở lúc ngủ say. Xen giữa là tiếng cái đèn dầu tí tách vỡ dầu, và một tiếng thở dài rất nhẹ, nhẹ đến mức phải đứa nào tỉnh giấc trước gà mới nghe được.
Cha đang vá chăn.
Ta nhận ra ngay, dù đây mới là buổi sáng thứ hai của muội trong cái thân xác sáu tuổi này. Ta của kiếp trước, hai mươi lăm năm ở cô nhi viện, chưa từng ai vá chăn cho ta trước lúc gà gáy. Chăn cô nhi viện dày, chăn cô nhi viện phát theo suất, rách một chỗ là thay cả cái, không ai ngồi cả đêm cầm chỉ khâu từng đường một. Vậy mà ở đây, trong túp lều tranh dột đến trần cũng thủng, có một người đàn ông ngồi thức trắng chỉ để chắp lại tấm chăn bông cho một đứa bé mà đêm qua sốt nhẹ.
Muội hé mí mắt ra một khe hẹp. Cha đang ngồi ở đầu giường, ngay bên cạnh chỗ chân muội, lưng khom xuống, cả người quay về phía đèn dầu leo lét đặt trên chiếc ghế con ba chân bốn màu vá. Ánh đèn hắt lên gương mặt cha một bên vàng ấm, một bên chìm trong bóng tối, nét mũi cao thẳng và một chòm râu ngắn lún phún dưới cằm khiến cha trông như một pho tượng gỗ ai đó khắc dở giữa đêm.
Trên tay cha là tấm chăn bông vá bảy chỗ của muội. Tấm chăn ấy, hồi kiếp trước ta có nghe kể chuyện các bà, nói rằng một cái chăn bông cưới của người ta có thể đắp ba đời con cháu, thì tấm chăn bông này của nhà Trần chắc cũng đã đắp qua ít nhất hai đời rồi. Vỏ chăn ngoài mỏng như giấy dó, có chỗ đã sờn hẳn thành lỗ. Bông bên trong lại thô, cứng, đóng cục từng mảng nhỏ như những con chuột con nằm sát nhau ngủ đông. Cha đang cầm một mẩu vải hoa lê đỏ nhạt, chắc nhặt được ở chợ đêm qua, tỉ mỉ đặt lên chỗ thủng gần vai muội, rồi lấy đầu kim đưa từng mũi một.
Mũi kim cha đưa không đẹp. Kim đi hơi lệch, đường chỉ khi thẳng khi cong, chỗ dày chỗ mỏng. Nhìn qua là biết bàn tay này quen cầm cuốc chứ không quen cầm kim. Nhưng lạ lắm, muội nhìn cái đường chỉ ấy mà lại thấy trong lòng có một chỗ nào đó, chỗ đã đóng băng đằng đẵng suốt hai mươi lăm năm ở kiếp trước, khe khẽ nứt ra một đường, ấm dần lên như bát trà đường phèn ai vừa pha đưa vào lòng bàn tay.
Ta đã sống hai mươi lăm năm mà chưa từng thấy ai vá quần áo cho mình.
Muội chớp mắt liên tục, cố nuốt xuống cái ngòn cay ở sống mũi.
Vừa lúc đó, cha ngước lên, phát hiện muội đã tỉnh, bàn tay to bè cầm kim run nhẹ một cái. Cha đặt tấm chăn xuống ngay, vươn cả hai tay ra kéo chăn lên tận cằm muội, xoa xoa má muội bằng cái mu bàn tay chai sạm mà ấm khét mùi khói bếp.
“Kiều Kiều nhi, muội tỉnh sớm thế, có lạnh không, có đau ở đâu không?”
Giọng cha khàn khàn, đúng là giọng người thức trắng. Cha nói tiếng thôn Đào Khê, âm cuối kéo dài như tiếng gió chiều lùa qua rặng tre.
“Cha ơi…”
Muội thử gọi. Giọng phát ra khỏi cổ họng nhỏ xíu là một tiếng “cha ơi” trong veo như tiếng chuông ngọc, khiến chính muội cũng giật mình. Ta đã bao lâu rồi không nghe chính mình gọi hai chữ “cha ơi” bằng giọng đàn bà con nít nhỉ. Hình như là chưa bao giờ. Ở cô nhi viện, các cô bảo mẫu gọi là cô, ta gọi các cô là cô, ta cả kiếp trước chưa được gọi ai là cha.
“Cha ơi, cha thức cả đêm à?”
Muội cố ý hỏi, dù đã biết thừa câu trả lời. Ta muốn nghe cha nói. Cha nói câu nào cũng ấm như đèn dầu, muội muốn thâu vào tai cho đầy.
Cha cười. Cha có một nụ cười rất lành, hai mắt nheo lại thành hai đường cong nhỏ như hai nét cỏ non. “Cha đâu có thức. Cha ngủ một chút, dậy nhóm lò. Tối qua muội sốt nhẹ, sờ trán muội ấm hơn bình thường một chút, cha sợ chăn muội mỏng, nên đem ra vá lại vài chỗ.”
Cha đâu có thức, mà cha nhóm lò ba lần, vá chăn nửa đêm, ngồi bên giường muội cả canh khuya. Đâu có thức chỗ nào chứ.
Ta ở trong lòng muội thầm mắng cha một cái. Mắng xong lại thấy mắt ướt. Muội đưa tay lên chùi vội, đúng lúc cha đưa tay lên đỡ, hai bàn tay cha con đụng nhau ngay giữa má muội. Tay cha to bằng cả cái mặt bé xíu của muội, tay muội đặt trong lòng bàn tay cha thì như một cánh hoa lê con nằm trên mặt đá.
“Sao khóc, con gái cha?”
Cha hỏi, giọng lo lắng đến mức chân mày nhíu lại. Muội lắc đầu, môi hơi cong lên.
“Muội có khóc đâu, chắc lúc ngủ có bụi rơi vào.”
Ta bịa. Bịa xong tự thấy mình vụng. Trần nhà thủng thế kia, có khi bụi rơi thật cũng nên. Cha tin muội, gật đầu, còn đưa cái đèn dầu lên cao rọi vào mắt muội xem có bụi không. Ánh đèn hắt vào con ngươi, ta lại thấy trong mắt cha có cả cái trần cỏ tranh, có cả cái lỗ thủng tròn xoe, và có cả chính khuôn mặt bé xíu của muội đang nằm trên gối bông vá.
Chưa từng có ai soi đèn tìm bụi mắt cho ta cả.
Nhị ca đẩy tấm phên cửa bước vào đúng lúc đó, cắt ngang cái khoảnh khắc muội đang cố nuốt xuống một cái nghẹn to bằng nắm tay.
Nhị ca tên Trần Nhị Lâm, mười hai tuổi, dáng cao ngòng như cây trúc mới lớn, cổ tay chỉ nhỉnh hơn muội một chút. Nhị ca đội cái nón lá cũ sờn vành, khoác cái áo bố nâu bạc phếch, tay xách cái giỏ tre và một con dao rựa dài bằng cả cẳng chân muội.
“Cha, con đi rừng đây. Sương xuống dày lắm, chắc trong rẫy trúc có nấm mối.” Nhị ca hạ giọng, sợ đánh thức tam ca đang ngủ ngay bên vách phên tre kế bên. “Cha đưa muội miếng cháo là cha ngủ một giấc đi, tối qua cha thức cả đêm, mắt cha đỏ như hoa gạo.”
Cha định đứng dậy tiễn nhị ca ra ngõ, muội níu tay áo cha lại.
“Cha ngồi cạnh muội đi, để muội tiễn nhị ca.”
Muội nói bằng cái giọng nhỏ như tiếng con mèo con vừa dứt sữa. Nhị ca ở cửa nghe thấy, đầu môi cong lên một nụ cười khẽ, rồi nghiêm mặt lại giả bộ gọn gàng, đưa tay lên vành nón chào muội một cái như tướng ra trận. Muội cười khúc khích trong chăn.
“Nhị ca, nhớ tránh chỗ suối trơn nhé, đừng ham đi sâu quá vào rẫy trúc, có sương dày dễ trượt lắm.”
Ta nói xong lại thấy mình như bà cụ trong thân bé con. Nhị ca nhìn muội chằm chằm một giây, đôi mắt tròn to như mắt mèo con dưới ánh đèn dầu, rồi phá lên cười khẽ.
“Muội cứ như cụ bà bảy mươi ấy nhỉ. Được rồi, nhị ca nhớ. Muội đừng có ra sương lạnh, ở nhà nghe cha, chờ nhị ca về nhị ca cho ăn nấm nướng.”
Nhị ca đi rồi. Cửa phên chưa kịp đóng hẳn, đại ca đã vén qua cái mành cỏ đi vào.
Đại ca Trần Đại Sơn mười lăm tuổi, dáng cao gầy như cây tre mọc trên đất cằn, hai vai đã có cái nếp gồ lên của người đàn ông sớm chịu nắng chịu gió. Da đại ca sạm nắng, tóc buộc túm sau gáy bằng một sợi dây gai, có lẽ đêm qua ngủ không kỹ nên có một túm tóc bung ra rơi bên trán. Đại ca cầm một cái gói nhỏ bọc lá chuối, bên trong chắc là mấy củ khoai luộc mẹ để dành từ tối qua.
“Cha, con đi rẫy nhà ông Trịnh. Ba ngày đổi hai đấu gạo, con ở lại đó ăn trưa, tối con về.” Đại ca hạ giọng thật thấp, khẽ khàng như con mèo bước qua giường muội, bàn tay chai của đại ca đặt nhẹ lên trán muội một cái, thấy không còn sốt liền thở phào. “Muội đỡ rồi. Cha ngồi cạnh muội thêm chút, để mẹ dậy nấu cháo đã.”
Đại ca đưa tay bóp bóp vai cha một cái. Cái bóp vai đó ngắn thôi, chưa được ba giây, mà chứa đủ tất cả những chữ mà một đứa con trai mười lăm tuổi không biết nói ra thành lời. Cha vỗ vỗ mu bàn tay đại ca, cũng không nói gì, chỉ gật đầu.
Muội nằm trong chăn, len lén dõi theo. Ta của kiếp trước học ngành mỹ nghệ, quen quan sát nét mặt và cử chỉ để chép mẫu bức tượng, ta thấy được cái ánh sáng loé lên trong mắt đại ca khi nhìn cha muội. Đó không phải chỉ là kính trọng cha con nhà nghèo, đó là cái ánh sáng của một đứa trẻ đã đứng ra làm cột trụ nhà khi mà cột nhà thật đã già đi nhanh hơn cả nó lớn lên.
Đại ca cúi xuống, đưa tay xoa đầu muội. Bàn tay đại ca cứng, nứt bảy chỗ, chỗ nứt nào cũng có một đường máu khô nhỏ xíu. Vậy mà đại ca xoa đầu muội nhẹ như xoa đầu một con mèo con.
“Kiều Kiều nhi, đại ca chiều về mang cho muội mấy quả sim rừng, muội thích ăn chua ngọt đúng không?”
Ta thích ăn không muội cũng chưa biết, cái đứa bé sáu tuổi mà ta xuyên vào này chắc là thích. Muội gật đầu, nhoẻn cười, hai lúm đồng tiền hằn xuống. Đại ca thấy hai lúm đồng tiền là mắt sáng lên, cái mặt sạm nắng bỗng đỏ ửng, đại ca gãi đầu một cái rồi chào cha đi ra ngõ.
Ngoài kia, tiếng nhị ca đã xa rồi, chỉ còn tiếng đại ca dặn với nhị ca cái gì đó ở đầu ngõ, rồi cả hai bước lẹp xẹp trên lối đất còn ướt sương. Trong nhà chỉ còn tiếng ho khan nhỏ của tam ca ở gian bên. Tam ca hôm nay dậy muộn hơn thường, có lẽ đêm qua đọc sách khuya.
Cha xoa đầu muội lần nữa, đứng dậy đi ra bếp bưng vào một chén cháo loãng. Cháo trắng lõng bõng, có mấy hạt gạo lép nổi lơ lửng như những cánh hoa lê rụng trên mặt hồ. Muội biết đây là chén cháo dành riêng cho muội, phần đặc nhất trong nồi, mẹ đã múc riêng ra từ tối qua để hâm lại sáng nay. Cả nhà còn lại chắc chỉ có nước cháo và một ít cơm nguội hôm kia.
“Muội ăn đi, ăn xong ngủ thêm một giấc, đợi mẹ nấu xong cha bế muội ra hiên.”
Cha đút cho muội từng thìa cháo một, thìa gỗ nhỏ tròn ủ hơi nóng. Cháo loãng nhưng ngọt, có lẽ mẹ nhấm cho muội mấy hạt đường phèn cuối cùng còn giấu trong ống tre. Muội húp một thìa, chờn vờn lưỡi, cả ngực bỗng ấm lên như có ai đặt vào đó một hòn than nhỏ.
Kiếp trước, hai mươi lăm năm, chưa từng có ai đút cho ta một thìa cháo.
Ta cố nuốt, cố cười cho cha đỡ lo. Ba thìa cháo. Bốn thìa. Đến thìa thứ năm thì tam ca vén mành phên bước ra.
Tam ca Trần Thanh Vân mười bốn tuổi, dáng cao gầy như tam ca vốn được sinh ra để đứng trong thư viện chứ không phải trong túp lều tranh. Nét mặt tam ca thanh tú, mũi cao thẳng, đôi mắt lúc nào cũng như đang nhìn về một chân trời rất xa. Da tam ca trắng hơn cả muội, ngón tay tam ca dài, thon, khớp không có cục chai nào, không giống tay của một đứa con trai đã làm ruộng ba đời như đại ca hay nhị ca. Muội bây giờ nhìn tam ca thì chưa nghĩ nhiều, chỉ thấy tam ca lạ. Ta thì lặng lẽ ghi nhận.
Tam ca cầm một quyển sách chỉ có bìa mà không có gáy, bìa vá bằng vải bố nâu. Tam ca ngồi bệt xuống chiếc bàn tre thấp ở góc gian nhà, đặt sách lên, mở ra, đôi mắt lập tức chìm vào những dòng chữ. Có một ngọn đèn dầu nữa đặt ở góc bàn, ngọn đèn con hơn, mỏng hơn, dầu đã cạn đến gần đáy. Tam ca thắp lên, tiết kiệm đến mức chỉ vặn bấc lộ ra một chấm bằng đầu kim.
“Tam ca, sáng thế này còn dậy đọc à?”
Muội hỏi, giọng còn ngậm thìa cháo. Tam ca quay sang, hé một nụ cười. Nụ cười tam ca ít lắm, cả một tháng chắc chỉ có ba nụ, nhưng nụ nào cũng dịu như trà ấm.
“Muội tỉnh rồi à Kiều Kiều nhi. Hôm qua tam ca đọc dở chỗ Mạnh Tử luận vương đạo, tam ca không đọc nốt là đêm nay ngủ không được.”
Trời ạ, mười bốn tuổi mà đọc Mạnh Tử, còn nói không đọc nốt là ngủ không được. Đứa bé này…
Ta trong lòng muội thở dài một cái. Cha cười, đầy tự hào, cha đưa thìa cháo cuối cùng lên miệng muội, khẽ nói vào tai muội bằng giọng thầm thì: “Tam ca của muội thông minh nhất nhà đấy nhé, năm nay thi tú tài chắc chắn đỗ.”
Cha nói xong, mắt cha sáng lên như bóng trăng qua giếng. Cha nghèo mà cha vẫn kiêu hãnh, vì cha có ba đứa con trai và một đứa con gái nhỏ, đứa nào cũng là hoa là trăng của cha. Muội thấy trong mắt cha có ánh đèn dầu, có cả một mảnh trời sao.
Cháo xong, cha đắp lại chăn cho muội, dặn ngủ tiếp một giấc rồi mới đi ra bếp giúp mẹ. Muội nằm nghe tiếng cha đi khỏi, nghe tiếng chân trần chạm nền đất nện đều đều, rồi lại nghe tiếng cha nói với mẹ ngoài bếp, giọng cha thấp mà giọng mẹ càng thấp hơn.
“Bả nhà mình, sáng nay đại ca ra rẫy đổi được ba ngày công là hai đấu gạo, đủ nấu cháo cho cả nhà chục ngày. Nhị ca đi rừng nếu gặp nấm mối thì tối nay có canh nấm. Muội đỡ sốt rồi, cháo mình múc cho nó chén đặc, còn lại mình húp nước cháo cũng no.”
Giọng cha khoẻ hẳn khi nói đến bữa cơm, tựa như đây không phải chuyện đói khát mà là chuyện cưới hỏi. Mẹ đáp bằng một tiếng “vâng” nhỏ như hơi thở, rồi có tiếng mẹ lục lọi trong ống tre.
“Ông ơi, còn nửa bơ gạo cuối này, tôi để dành nấu cho muội cháo trưa. Nhưng ông ạ, cái mùi thuốc bà lang bảo nấu cho muội, cái mùi đó phải có gừng non, mà gừng non ngoài chợ giá lên gấp đôi rồi.”
Mẹ ngập ngừng, rồi giọng mẹ bỗng nhỏ hẳn xuống, thấp gần như tiếng khóc: “Ông ơi, có cách nào không, tôi thấy má muội hôm qua đỏ ửng, cả đêm miệng nói mê, không có gừng non thì không cắt được cơn ho…”
Cha im lặng. Muội trong chăn thấy tim mình thắt lại một cái. Ta nằm im, cố nghe.
“Bả yên tâm, tôi bán cái đó cũng bán được nửa xâu, đủ mua gừng cho muội.”
Bán cái gì?
Ta không kịp nghĩ ra, thì có tiếng bước chân của bà hàng xóm bên hàng rào, khiến cha mẹ trong bếp im bặt.
Bà hàng xóm tên Chín, cả thôn gọi là bà Chín Ổi, vì trước sân bà có một cây ổi to có bảy nhánh. Bà đứng bên hàng rào tre, nói vọng sang, giọng vờ như hỏi thăm mà lại đủ to cho cả xóm nghe.
“Ông Trần ơi, đại ca ra đồng sớm thế, muội có đỡ chưa, khổ thân muội, nhỏ xíu mà đêm nào cũng ho.”
Cha ừ à đáp lại. Bà Chín Ổi tiếp lời, giọng gần hàng rào hơn, chắc là nói với người phụ nữ nào đó đang cùng đứng.
“Cái nhà Trần này khổ thật, ba đứa con trai đều đang tuổi ăn, thêm cái con bé út này lại yếu, tôi thấy đến cả gạo cũng không có, cứ nâng như nâng trứng ba bốn miệng ăn thế này rồi cả đàn chết đói mất thôi. Người ta ba đời làm ruộng, đến đời ông Trần này thì mảnh đất còn mỗi mấy sào chua phèn, ơi trời, khổ.”
Người phụ nữ kia hạ giọng: “Bà Chín ạ, tôi nghe nói tri phủ mới lên, mấy nhà nghèo không nộp đủ thuế đất còn bị siết. Nhà Trần này đến gạo còn không có, lấy đâu ra bạc nộp thuế xuân…”
Muội trong chăn nghe rõ mồn một từng chữ. Ta nghe xong thì cắn chặt môi dưới. Đau, đau đến ứa máu ra một chút mằn mặn ở đầu lưỡi.
Không được. Không thể để cha mẹ mãi thế này. Không thể để đại ca cả đời đi rẫy nhà ông Trịnh đổi hai đấu gạo. Không thể để nhị ca sáng nào cũng vào rừng lấy nấm chống đói. Không thể để tam ca đọc sách bằng đèn dầu cạn đến đáy. Không thể để mẹ vì nửa lượng gừng non mà giọng khóc trong ống tre.
Không thể. Chiều nay muội phải nghĩ ra cách kiếm tiền.
Ta thầm nhủ. Nhủ xong, hai mắt hé mở, nhìn ra khe hở của cái vách phên tre, thấy cha ngồi ngoài hiên, tay còn nắm một cái gì đó nho nhỏ, bằng bạc, gương ánh đèn dầu leo lét. Cha chép miệng, xoay xoay cái vật đó trong lòng bàn tay chai, rồi cẩn thận cho vào ngực áo. Ta đoán ngay: cái đó là kỷ vật gì đó của mẹ hoặc của cha, thứ cuối cùng còn giá trị trong nhà, cha định đem đi bán để đổi lấy gừng non cho muội.
Không, không thể để cha bán cái đó.
Muội trở người trong chăn, cố ngủ tiếp một giấc như cha dặn, nhưng đầu óc muội quay đến chóng mặt. Ta liệt kê ra tất cả những gì ta biết kiếp trước có thể quy đổi thành bạc ở thời cổ đại: chế hương liệu, khắc ngọc, làm kẹp tóc, làm nến, thêu tranh… Nhưng thứ nào cũng cần vốn. Ta còn chưa biết cái nhà Trần này ngoài nửa bơ gạo còn có gì. Ta không có công cụ, không có nguyên liệu, không có tiền vốn ban đầu.
Phải có cái gì đó. Cái gì cũng được. Trời sinh voi trời sinh cỏ, chẳng lẽ ta xuyên đến cho có mà không có lấy một gói kim chỉ trong tay?
Muội cắn môi, ngồi dậy. Chăn bông vá bảy chỗ trượt xuống đầu gối, cha đang ngoài hiên chưa biết. Ta khe khẽ đưa chân xuống đất, chân trần chạm nền đất nện lạnh như đá, khiến cả người rùng lên. Ta run rẩy đi ra hông nhà, nơi có cái chum nước bằng sành sứt vành, đứng trên một tảng đá bằng phẳng cho cao lên bằng miệng chum. Trong chum còn nửa vò nước, mặt nước phản chiếu cả một mảng trời xanh non đang sáng dần, và một gương mặt bé xíu nhìn ngược lại muội.
Ôi trời, đúng là một khuôn mặt sáu tuổi thật. Má bầu bĩnh nhưng xanh xao, môi hồng nhạt hơi khô, hai con mắt to tròn đen láy như hai hạt nhãn, hai lông mày cong con con như hai sợi chỉ mực loãng, nhưng cái ánh mắt trong đó thì lại không giống mắt của trẻ con, ánh mắt ấy sâu, chín, và có cả một chút mệt mỏi lẫn quyết tâm của một đứa hai mươi lăm tuổi.
Muội vốc một bụm nước rửa mặt. Nước lạnh buốt, chạm da bé làm cả người thu lại một cái. Muội cầm cái khăn bố cũ, vò nước, chấm lên má. Vừa đưa khăn lên vừa nhìn vào lòng bàn tay của chính mình.
Lòng bàn tay muội bé xíu, chỉ nhỉnh hơn cái đồng xu bạc một chút. Đường chỉ tay mảnh, rõ ba đường chính, đường sinh mệnh dài quá cổ tay, cong mềm như cánh cỏ lau non. Muội nhìn kỹ hơn, ngón cái phải có một chấm nhỏ như hạt gạo, chấm đó không phải nốt ruồi, mà đúng hơn là một đốm sáng rất nhỏ, nhấp nháy khe khẽ.
Ta chớp mắt. Nhìn lại. Chấm đó vẫn ở đó, sáng như một hạt đường phèn ai đặt vào lòng bàn tay muội.
Cái gì đây?
Muội đưa lòng bàn tay lại gần mắt hơn. Đốm sáng như đáp lại, nó nở ra một chút, thành một đường sáng dài chừng một đốt ngón tay, chạy theo đường sinh mệnh, óng ánh như một sợi bấc lụa vừa được thắp lên. Đường sáng ấy không nóng, không lạnh, nó ấm, ấm đúng bằng cái ấm của bát trà đường phèn buổi sớm, ấm bằng cái ấm của bàn tay cha đặt trên trán muội đêm qua.
Muội nín thở. Ta cũng nín thở.
Đường sáng đó, giống như một tia đèn dầu leo lét vừa được thắp bên trong lòng bàn tay muội. Và đằng sau tia đèn dầu ấy, muội thoáng thấy… một khe cửa. Một khe cửa gỗ hé mở chừng một ngón tay, phía sau khe cửa hình như có một khoảnh vườn, có suối trong veo, có cả một cây đào già đang trổ nụ.
Muội chớp mắt lần nữa. Khe cửa vẫn đó.
Không gian… đây là không gian tâm linh gia truyền mà bên trong quyển kỳ ảo ta hay đọc kiếp trước hay nhắc đến sao? Nhưng mà, sao lại có ở tay muội?
Ta không biết. Nhưng ta biết một điều: kiếp trước ta cô độc hai mươi lăm năm không có ai bên cạnh, kiếp này ta vừa mở mắt ra đã có cha vá chăn cho, có đại ca xoa đầu bằng bàn tay chai bảy nứt, có nhị ca đội nón đi rừng lấy nấm, có tam ca đọc Mạnh Tử bên đèn dầu cạn, có mẹ giấu nửa bơ gạo cuối cùng cho muội. Và bây giờ, trên lòng bàn tay muội bé xíu, ai đó, hay ông trời, hay tổ tiên nhà Trần, hay chính người mẹ ruột nào đó của kiếp trước, đã đặt vào một khe cửa hé mở.
Cha ơi.
Muội nắm chặt lòng bàn tay, đường sáng khép lại chỉ còn một chấm bé xíu, ấm chín. Muội nhẹ nhàng bước xuống tảng đá, chân trần chạm sương lạnh, mà lòng thì ấm đến mức muội tưởng như trong ngực mình vừa có ai thắp lên một cây nến trầm hương nhỏ, cháy chầm chậm, cháy chầm chậm, đủ cho cả một buổi sáng mùa xuân.