Trọng Sinh Ta Không Còn Nhu Nhược
Chương 14: Hầu Phu Nhân Nghi Ngờ
Từ sau buổi trò chuyện trong tiểu viện, Hầu phu nhân đổi khác.
Không phải đổi khác kiểu người ngoài nhìn vào có thể nhận ra ngay. Bà vẫn gọi Ý Nhu là “con”, vẫn để nàng ta ngồi cạnh mỗi bận dùng trà chiều, vẫn hỏi han từng câu ân cần như tám năm nay đã quen. Chỉ có ta, người từng ngồi đối diện bà buổi chiều hôm ấy, mới nhận ra ánh mắt bà khi nhìn Ý Nhu đã có thêm một tầng gì đó không còn trong suốt.
Bà quan sát. Lặng lẽ, kiên nhẫn, như người cầm đèn soi số ngồi dò lại một cuốn sổ đã thuộc lòng, cố tìm ra đúng chỗ mực từng bị tẩy sửa.
“Con còn nhớ ngày xưa, lúc mới vào phủ, con hay kể chuyện gì cho ta nghe không?” Một buổi chiều, Hầu phu nhân hỏi, giọng vẫn nhẹ như đang ôn lại kỷ niệm cũ. “Chuyện nhà cửa phương Nam, chuyện cha mẹ con lúc còn sống.”
Ý Nhu đang rót trà, tay khẽ khựng lại một nhịp rất nhỏ, rồi tiếp tục như không có chuyện gì.
“Con nhớ không rõ lắm ạ.” Nàng ta đáp, giọng có chút ngập ngừng. “Lúc đó con còn nhỏ, lại vừa trải qua chuyện đau lòng, nhiều thứ con cố quên đi cho đỡ khổ tâm.”
“Ừ, cũng phải.” Hầu phu nhân gật đầu, không truy hỏi thêm, chỉ đưa mắt nhìn ra sân, giọng nói như buông lửng. “Chỉ là dạo này ta hay nghĩ về muội muội ta, nhớ lại từng chuyện nhỏ ngày xưa. Người già rồi, hay hoài niệm.”
Ta ngồi một bên, giả vờ chăm chú vào chén trà trước mặt, mắt liếc nhanh sang Ý Nhu.
Gương mặt nàng ta vẫn giữ nguyên vẻ dịu dàng quen thuộc, nhưng ngón tay cầm ấm trà đã siết chặt hơn bình thường một chút, chỉ đủ để lộ ra dưới ánh mắt của người đang cố tình để ý.
Ý Nhu không phải kẻ chậm chạp.
Chỉ vài ngày sau, nàng ta bắt đầu đổi cách ứng xử. Không còn những câu chuyện phiếm vô thưởng vô phạt, thay vào đó là những buổi nàng ta chủ động tìm đến tiểu viện Hầu phu nhân, quỳ xuống khóc nức nở, kể lể nỗi khổ mồ côi từ nhỏ, nói mình may mắn được dì thương như mẹ ruột, nếu không có dì chắc đã không sống nổi đến hôm nay.
“Con không cầu gì hơn.” Ý Nhu nói, nước mắt lã chã, giọng nghẹn ngào đến mức khiến gia nhân đứng ngoài cũng phải mủi lòng. “Chỉ mong dì đừng vì chuyện gì đó nghe được mà đổi lòng với con. Con mồ côi cả cha lẫn mẹ, trên đời này chỉ còn dì là người thân duy nhất.”
Kiếp trước, một câu như vậy đủ khiến Hầu phu nhân ôm lấy Ý Nhu, dỗ dành cả buổi, thậm chí quay sang trách cứ bất cứ ai dám khiến “con bé đáng thương” phải tủi thân.
Kiếp này, bà chỉ lặng lẽ đỡ Ý Nhu dậy, giọng vẫn dịu dàng nhưng không còn vội vàng ôm chầm lấy như trước.
“Con đứng dậy đi, khóc lóc thế này lỡ ai nhìn thấy lại tưởng ta ngược đãi con.” Bà nói, tay đỡ Ý Nhu ngồi lại ghế, ánh mắt quan sát kỹ từng biểu cảm trên gương mặt nàng ta. “Ta chưa từng đổi lòng với con. Chỉ là người già, thi thoảng hay nghĩ ngợi vẩn vơ vậy thôi.”
Ý Nhu ngẩng lên, đôi mắt còn ngấn lệ, nhưng trong khoảnh khắc ấy, ta đứng khuất sau bình phong nhìn ra, thấy rõ một tia dò xét lạnh lẽo lướt qua đáy mắt nàng ta, nhanh đến mức nếu không chú ý sẽ chẳng thể nhận ra.
Hầu phu nhân không dừng lại ở việc quan sát.
Đêm hôm sau, bà cho gọi ta đến tiểu viện, chỉ hai người, cửa đóng kín, nến thắp thấp hơn thường ngày.
“Ta đã cho người đi tìm bà mụ năm xưa từng đỡ đẻ cho muội muội ta.” Bà nói thẳng, không vòng vo như mọi khi. “Nếu bà ấy còn sống, hẳn sẽ nhớ rõ đứa trẻ mới sinh có vết bớt hay không, ở vị trí nào, hình dạng ra sao. Ký ức tám năm về sau của ta, dù có chắc đến mấy, cũng không bằng lời của người đã tận tay đỡ đứa bé chào đời.”
Ta nghe mà lòng dấy lên một tia kính nể.
Người đàn bà này, dù thương Ý Nhu tám năm ròng, một khi đã nghi ngờ, lại không chọn cách mềm lòng bỏ qua, cũng không chọn cách nổi giận vội vàng chất vấn. Bà chọn cách lặng lẽ nhất, chắc chắn nhất, đi tìm bằng chứng gốc rễ trước khi tin hay không tin bất cứ điều gì.
“Mẫu thân làm vậy, con thấy đúng.” Ta nói, giọng thành thật. “Trắng đen phải rõ, dù người trong cuộc có đau lòng đến đâu.”
“Ta cũng mong mình sai.” Hầu phu nhân nói, giọng khẽ run. “Ta mong bà mụ ấy tìm được, sẽ nói với ta rằng ta đã nhớ nhầm, rằng vết bớt trên vai Ý Nhu đúng là của muội muội ta để lại, không có gì phải nghi ngờ. Nhưng nếu không phải…”
Bà không nói hết câu, chỉ nhìn xuống đôi tay mình, ánh nến run rẩy hắt lên gương mặt đã có thêm vài nếp nhăn mới kể từ ngày ta đưa mảnh giấy cháy dở cho bà xem.
Trong lúc Hầu phu nhân âm thầm dò xét, chàng cũng trở về phủ.
Lần này không phải phi ngựa giữa đêm như bận trước, mà đường hoàng cưỡi ngựa vào cổng chính lúc chiều tà, viện cớ tình hình biên ải tạm ổn vài ngày, tranh thủ về phủ thu xếp vài việc trước khi trở lại Nhạn Môn quan.
Ta biết rõ, việc thu xếp ấy, phần lớn là vì nàng ta.
“Nàng gầy đi.” Chàng nói, vừa bước vào phòng đã nhìn thẳng vào ta, ánh mắt có chút xót xa không giấu được. “Mấy ngày nay lại thức khuya nhiều phải không?”
“Không nhiều hơn mọi khi.” Ta đáp, kéo ghế mời chàng ngồi, tay đã quen thuộc dọn sẵn chỗ trên án thư cho hai người cùng xem sổ sách. “Chỉ là gần đây có thêm việc phải để ý.”
Ta thuật lại vắn tắt những gì đã xảy ra: Hầu phu nhân bắt đầu dò xét, Ý Nhu đổi cách ứng xử, và việc bà cho người đi tìm bà mụ năm xưa.
Chàng nghe xong, gật đầu, không tỏ vẻ ngạc nhiên.
“Ý Nhu không phải kẻ ngốc.” Chàng nói. “Nàng ta hẳn đã nhận ra thái độ Hầu phu nhân đổi khác từ lâu, chỉ là chưa biết chính xác chúng ta đã nắm được đến đâu. Càng như vậy, nàng ta càng phải cẩn trọng hơn trong mọi việc, kể cả việc rút xén lương quân.”
“Càng cẩn trọng, càng dễ để lộ sơ hở.” Ta nói, mở cuốn sổ đỏ đã sao chép đặt lên án thư. “Thiếp muốn nhân lúc nàng ta còn đang bận đối phó với mẫu thân, tranh thủ lần lại thật kỹ sổ chi lương gần đây, xem có bỏ sót khoản nào không.”
Chàng nhìn ta một thoáng, khoé miệng khẽ nhếch lên.
“Được. Ta cũng đang muốn xem lại.”
Hai người ngồi đối diện nhau dưới ánh đèn dầu, giữa án thư là sổ đỏ hiện tại, sổ xanh của mẹ ta, và tập giấy ghi chú riêng đã dày thêm không ít trang so với lần đầu.
Ta dò từng dòng, đối chiếu ngày tháng với con dấu mòn quen thuộc đóng ở góc mỗi trang, còn chàng dò theo hướng khác, đối chiếu các khoản chi với lịch trình đoàn vận lương thật gửi về từ Nhạn Môn quan.
Gần nửa canh giờ trôi qua trong im lặng, chỉ có tiếng giấy lật khe khẽ và tiếng đèn dầu cháy tí tách.
“Đây.” Ta bỗng dừng lại, ngón tay chỉ vào một dòng nhỏ. “Khoản phí vận chuyển tháng trước, hao hụt hơn thường lệ một khoản nhỏ, ngày ghi sổ trùng đúng vào hôm Ý Nhu xin phép ra ngoài thăm mộ mẹ.”
Chàng cúi xuống nhìn, rồi lật sang một trang khác, đối chiếu.
“Còn một khoản nữa.” Chàng nói, giọng trầm lại. “Nửa tháng trước đó, cũng đúng ngày nàng ta ra ngoài phủ, cũng với lý do thăm mộ.”
Hai khoản hao hụt, hai lần Ý Nhu rời phủ, trùng khớp đến mức không thể coi là ngẫu nhiên.
“Nàng ta không thật sự đi thăm mộ.” Ta nói, giọng lạnh dần. “Mỗi lần rời phủ, hẳn là để gặp ai đó, giao nhận thứ gì đó liên quan đến khoản hao hụt này.”
Chàng gật đầu, ánh mắt đã trở nên sắc lạnh.
“Ta sẽ cho người âm thầm theo dõi, lần sau nàng ta xin ra ngoài, bám sát từng bước, xem rốt cuộc nàng ta gặp ai.” Chàng nói. “Nhưng phải hết sức cẩn trọng, không để lộ dấu vết. Nàng ta đã cảnh giác, chỉ cần sơ sểnh một chút, mọi công sức bấy lâu coi như đổ sông đổ biển.”
Đêm càng khuya, ngọn đèn dầu cháy đã vơi quá nửa.
Ta ngả lưng ra sau, tay xoa nhẹ thái dương, cảm giác mỏi mệt dồn lên sau nhiều đêm liền thức khuya đối chiếu sổ sách. Chàng nhìn thấy, lặng lẽ đứng dậy, tự tay rót cho ta một chén trà ấm, đặt nhẹ trước mặt.
“Nghỉ một lát đi.” Chàng nói, giọng dịu hẳn xuống so với lúc bàn chuyện sổ sách. “Việc này còn dài, không cần vội trong một đêm.”
Ta cầm chén trà, hơi ấm lan qua lòng bàn tay, ngẩng lên nhìn chàng.
“Thiếp không sao.” Ta đáp, nhưng khoé miệng vẫn khẽ cong lên vì cử chỉ ấy. “Chỉ là nghĩ đến mẫu thân, thấy thương bà nhiều hơn thương chính mình. Mười năm trước mẹ thiếp chết oan vì một bức thư không chữ ký. Tám năm nay mẫu thân thương nhầm một kẻ giả danh máu mủ. Cùng một kẻ đứng sau, hại liền hai người đàn bà, mà đến giờ vẫn chưa lộ diện.”
Chàng ngồi xuống cạnh ta, không nói gì, chỉ đưa tay nắm lấy tay ta đang siết chặt trên mép án thư, xoa nhẹ như muốn truyền hơi ấm.
“Sẽ có ngày.” Chàng nói, giọng chắc nịch. “Cái kim giấu trong bọc, giấu được một ngày, không giấu được mãi mãi. Nàng ta càng cố che đậy lâu, càng để lại nhiều dấu vết, sớm muộn cũng lộ ra hết.”
Ta khẽ gật đầu, không đáp thêm, chỉ để bàn tay mình nằm yên trong tay chàng một lúc lâu, lắng nghe tiếng đèn dầu cháy tí tách giữa đêm khuya tĩnh lặng.
Chàng ở lại phủ thêm hai ngày, rồi lại phải trở về Nhạn Môn quan vì có tin cấp báo từ doanh trại.
Trước khi đi, chàng dặn dò kỹ, giao lại cho ta một danh sách những người tin cẩn có thể sai khiến âm thầm theo dõi mỗi khi Ý Nhu rời phủ, đồng thời nhắc ta tuyệt đối không tự mình đối đầu trực tiếp khi chưa có đủ chứng cứ.
Ta tiễn chàng đến tận cổng, nhìn bóng ngựa khuất dần sau con phố dài, trong lòng vừa yên tâm vì đã có thêm người cùng chung vai gánh vác, vừa thấp thỏm vì biết rõ, mỗi ngày trôi qua, Ý Nhu cũng đang ngày một cẩn trọng hơn.
Hai ngày sau khi chàng đi, tin từ Bích Chi báo về: người của Hầu phu nhân đã tìm được bà mụ năm xưa, hiện đang trên đường về Lạc Dương, dự tính chừng năm ngày nữa sẽ đến nơi.
Ta ngồi bên án thư, lòng ngổn ngang trăm mối, vừa mong ngày bà mụ ấy đến sớm để có thêm một mảnh ghép chắc chắn, vừa lo sợ Ý Nhu sẽ đánh hơi được chuyện này trước khi mọi thứ kịp sáng tỏ.
Đêm đó, ta thức rất khuya, ngồi lật lại từng trang sổ đã đối chiếu, cố tìm thêm bất cứ manh mối nào có thể dùng làm chứng cứ vững chắc hơn trước khi bà mụ về đến kinh thành.
Ngọn đèn dầu đã cháy gần cạn, ta định thu dọn sổ sách đi nghỉ, thì ngoài cửa bỗng vang lên tiếng bước chân rất khẽ, cố nén đến mức gần như không phát ra tiếng động, khác hẳn nhịp bước quen thuộc của Bích Chi hay bất cứ nha hoàn nào trong viện.
Ta khựng tay, tim đập nhanh hẳn, chưa kịp lên tiếng hỏi thì cánh cửa phòng khẽ hé mở.
Vệ quản gia đứng đó, dáng người run rẩy trong bóng tối, gương mặt tái mét dưới ánh đèn dầu leo lét, không còn chút gì vẻ trơn tru khéo léo thường ngày hắn vẫn phô ra trước mặt người khác.
Hắn nhìn quanh phòng một lượt, đảm bảo không có ai khác, rồi bất chợt quỳ sụp xuống ngay trước mặt ta, hai tay run rẩy chắp lại, giọng nghẹn đến mức gần như không thành tiếng.
“Thế tử phi…” Hắn nói, cả người run lên từng đợt như đang chịu đựng một nỗi sợ hãi đã dồn nén quá lâu. “Nô tài chỉ làm theo lệnh, không dám giấu thêm nữa. Người thật sự sai khiến nô tài suốt tám năm nay… là biểu tiểu thư.”