Trọng Sinh Ta Không Còn Nhu Nhược
Chương 8: Đối Chiếu Đầu Tiên
Ban ngày, ta là thế tử phi cầm sổ tay quản gia, tính bổng lộc gia nhân, duyệt chi mua sắm vật dụng, tiếp chuyện Hầu phu nhân mỗi sáng ở chính đường, gương mặt lúc nào cũng giữ đúng một vẻ ôn hoà không chút gợn sóng.
Ban đêm, cửa phòng khép chặt, đèn dầu vặn nhỏ, ta lại là một người khác hẳn.
Trước mặt ta, hai cuốn sổ nằm song song trên án thư. Một bên là sổ xanh của mẹ, bìa vải đã sờn cũ, nét chữ nắn nót của mười năm về trước. Một bên là tập giấy ta tự tay sao lại từ sổ chi lương hiện tại của phủ, nét mực còn tươi, con số còn nóng hổi của ba tháng gần nhất.
“Tiểu thư định thức đến canh mấy?” Bích Chi đứng cạnh, tay bưng một chén trà nóng, giọng vừa lo lắng vừa có phần bất lực, hẳn đã hỏi câu này không dưới ba lần trong tuần qua.
“Đến khi nào xong thì thôi.” Ta đáp, mắt không rời trang sổ, tay cầm bút chấm nhẹ vào nghiên mực, viết một dòng ghi chú nhỏ bên lề tập giấy.
Bích Chi thở dài, đặt chén trà xuống cạnh tay ta, không nói thêm, chỉ lặng lẽ kéo ghế ngồi xuống góc phòng, mắt dán vào cửa sổ, tai vểnh nghe ngóng mọi động tĩnh bên ngoài. Từ đêm ta phát hiện sổ xanh của mẹ, nàng đã tự nhận lấy phần việc canh cửa mỗi tối, không cần ta dặn dò.
Cách đối chiếu ta chọn, kỳ thực rất chậm, rất thô sơ, chẳng có gì tinh xảo.
Ta lấy từng khoản mẹ đánh dấu chấm đỏ trong sổ xanh, ghi lại đầy đủ: thời gian, số lượng, tên khoản mục, rồi tra ngược trong sổ chi lương hiện tại của phủ xem có khoản nào cùng loại, cùng cách nguỵ trang hao hụt hay không. Bảy khoản mẹ đánh dấu, trải dài suốt hai năm trước khi bà gặp hoạ, mỗi khoản đều liên quan đến việc vận lương ra biên ải.
Khoản thứ nhất, mẹ ghi “phí lo lót qua ải”, hao hụt hai lượng bạc lẻ. Ta lật sổ hiện tại, tìm được một khoản tương tự trong tháng trước, cũng ghi đúng bốn chữ “phí lo lót qua ải”, hao hụt một lượng tám.
Khoản thứ hai, mẹ ghi “phí thuê xe kéo phụ”, hao hụt gần ba lượng. Sổ hiện tại, tháng này, có một khoản “phí thuê xe kéo phụ” y hệt, hao hụt hai lượng rưỡi.
Ta dừng bút, tay hơi run.
Không phải trùng tên khoản mục là chuyện lạ, tên gọi ấy có thể ai cũng dùng được. Nhưng cách hai khoản này được ghi, cách con số hao hụt luôn nhỏ hơn một phần mười tổng chi, đủ nhỏ để không ai để tâm khi duyệt sổ nhanh, lại đủ lớn để tích luỹ thành một khoản đáng kể sau nhiều tháng, hai điều ấy giống nhau đến mức khiến ta nghi ngờ đây không phải ngẫu nhiên.
Ta tiếp tục lần theo khoản thứ ba, thứ tư.
Càng đối chiếu, sống lưng ta càng lạnh.
Khoản thứ năm trong sổ mẹ, ghi “phí sửa xe đường xa”, có kèm một chi tiết nhỏ mẹ chú thích bên lề: “xe không hư, chưởng quầy trạm giữa đường xác nhận.” Ta lật sổ hiện tại, tìm được khoản tương tự vào hai tháng trước, cũng ghi “phí sửa xe đường xa”, không có chú thích nào, nhưng số tiền, tỉ lệ so với tổng chi, thời điểm phát sinh trong tháng, tất cả đều rơi vào đúng cùng một khuôn.
Cùng một khuôn.
Ta đặt bút xuống, hai tay ôm lấy đầu, cố trấn tĩnh lại nhịp thở đang gấp dần.
Mẹ ta, mười năm trước, đã từng đối mặt với đúng cách rút xén này. Kiếp này, ngay trong chính hầu phủ ta gả vào, cách rút xén ấy vẫn đang tiếp diễn, gần như không đổi một chữ.
Không phải người giống nhau. Ta chắc chắn điều đó, vì kẻ hại mẹ ta mười năm trước hẳn đã già, có thể đã không còn ở phủ này, có thể đã chết, có thể đã đổi sang chỗ khác. Nhưng cái khuôn, cái cách thức, cái tỉ lệ hao hụt được tính toán cẩn thận để không ai nghi ngờ, lại được truyền lại nguyên vẹn, như một món nghề gia truyền chuyền tay từ đời này sang đời khác.
Gậy ông đập lưng ông.
Kẻ nào đó đã dạy lại đúng thủ đoạn của chính mình cho người kế nhiệm, để rồi hôm nay, chính cái thủ đoạn quen thuộc ấy lại trở thành dấu vết rõ ràng nhất dẫn ta lần ngược về gốc rễ.
“Tiểu thư.” Bích Chi khẽ gọi, thấy sắc mặt ta trắng bệch, vội bước lại gần. “Người không sao chứ?”
“Không sao.” Ta đáp, giọng khàn đi vì ngồi lâu không nói. “Chỉ là… giống nhau quá.”
Bích Chi không hiểu hết, nhưng nhìn vẻ mặt ta, cũng không dám hỏi thêm, chỉ lặng lẽ rót thêm một chén trà nóng khác, đặt cạnh tay ta.
Đêm thứ ba, ta đối chiếu xong khoản thứ sáu.
Khoản này khác một chút so với năm khoản trước, không phải “phí lo lót” hay “phí sửa xe”, mà là một khoản mang tên “phí kiểm kê lại kho”, chỉ xuất hiện đúng một lần trong sổ mẹ, đi kèm với con dấu triện phòng quản gia đóng ở góc trang, nét mòn lệch về bên trái, tạo thành khoảng trống hình vòng cung nhỏ.
Con dấu ấy, ta đã từng thấy. Đêm ta tìm ra sổ xanh của mẹ, chính con dấu này đã khiến ta rùng mình nhận ra, chiếc triện phòng quản gia hiện tại vẫn đang dùng, mòn đúng ở góc ấy, đã tồn tại từ trước cả khi mẹ ta còn sống.
Ta lật sổ hiện tại, tìm khoản “phí kiểm kê lại kho” gần nhất, cách đây bốn tháng.
Con dấu đóng ở góc trang, cùng một vết mòn, cùng một khoảng trống hình vòng cung.
Ta cầm đèn dầu, ghé sát lại, soi thật kỹ cả hai trang giấy cách nhau mười năm, đặt song song dưới ánh sáng vàng nhạt run rẩy.
Hai hình vòng cung, khớp gần như tuyệt đối.
Đèn soi số, con dấu mòn, mực đỏ chấm nhỏ mẹ để lại mười năm trước, tất cả như đang nói cùng một điều: kẻ đứng sau chiếc triện này, dù đổi bao nhiêu đời quản gia, dù đổi bao nhiêu bàn tay thực hiện, vẫn giữ nguyên một gốc rễ không đổi.
Ta không dám kết luận ngay lập tức đây là bằng chứng đủ vững để tố cáo bất cứ ai. Mẹ từng dạy ta, muốn buộc tội thông đồng phải có đối chiếu hai bản sổ sách trở lên cùng thời điểm, một khoản trùng hợp, dù rõ ràng đến đâu, cũng chưa đủ sức nặng trước triều đình.
Nhưng bảy khoản, trải dài mười năm, khớp nhau từng chi tiết nhỏ, đủ để ta tin chắc một điều: mình đang đi đúng hướng.
Ta lấy một tập giấy mới, cẩn thận sao lại toàn bộ bảy khoản đối chiếu, ghi rõ ngày tháng, số tiền, tên khoản mục, cả vị trí con dấu mòn ở từng trang, xếp gọn gàng theo thứ tự thời gian. Xong xuôi, ta gấp tập giấy lại làm tư, lồng vào một lớp giấy dầu mỏng, mang đến án thư, mở nắp hộp khảm trai, ấn nhẹ vào cạnh dưới đúng chỗ có ngăn bí mật.
Chiếc hộp khảm trai vẫn nằm yên ngay ngắn trên án thư như mọi ngày, hoa văn lấp lánh dưới ánh nến, chẳng ai nhìn vào có thể ngờ được bên trong đáy hộp giờ đây không chỉ có một cuốn sổ xanh của mẹ, mà còn thêm một tập giấy ghi lại bảy lần đối chiếu, mỗi lần đều là một mắt xích nhỏ trong sợi dây dài đang dần lộ ra.
“Tiểu thư giấu kỹ vậy, có phải vì…” Bích Chi ngập ngừng, không dám nói hết câu.
“Vì ta chưa muốn ai biết ta đã đi được đến đâu.” Ta đáp, đậy nắp hộp lại, tay khẽ vuốt phẳng lớp vải phủ bên ngoài. “Kể cả người trong phủ này ta tin tưởng nhất, ngoại trừ ngươi.”
Bích Chi cúi đầu, ánh mắt nghiêm túc hẳn lên. “Nô tỳ hiểu.”
“Từ đêm nay, ngươi vẫn canh cửa như mấy hôm trước. Nhưng thêm một việc.” Ta ngồi xuống, xoa nhẹ hai bên thái dương đã mỏi nhừ vì thức khuya liên tiếp mấy đêm liền. “Nếu ban ngày có ai ghé phòng ta khi ta không có mặt, dù chỉ đứng ngoài cửa nhìn vào, ngươi cũng phải nhớ kỹ, sau đó kể lại cho ta từng chi tiết nhỏ nhất.”
“Tiểu thư nghi ai đó sẽ dò xét phòng mình sao?” Bích Chi hỏi, giọng có chút lo lắng.
Ta không đáp ngay, chỉ nhìn ngọn nến trên án thư đang cháy gần cạn, bóng nó đổ dài trên vách tường, chập chờn theo từng cơn gió lùa qua khe cửa sổ chưa khép kín hẳn.
“Ta không nghi ai cả.” Ta cuối cùng đáp, giọng nhẹ nhưng chắc. “Ta chỉ cẩn thận trước, còn hơn để mất một thứ quan trọng rồi mới hối.”
Sáng hôm sau, ta dậy muộn hơn thường lệ, đầu óc còn váng vất vì thức gần trọn ba đêm liền. Bích Chi giục ta dùng chút điểm tâm trước khi ra chính đường, vừa đặt chén cháo xuống án thư, đã nghe tiếng gõ cửa khe khẽ bên ngoài.
“Tỷ tỷ, muội vào thăm được không?”
Giọng Ý Nhu, ngọt ngào, có phần rụt rè, không hề báo trước.
Ta liếc nhanh qua án thư. Đêm qua, sau khi cất tập giấy đối chiếu vào hộp khảm trai, ta còn để lại trên bàn vài trang sổ chi lương hiện tại đang dùng dở, chưa kịp dọn hết, chỉ vội vàng gấp gọn lại thành một chồng, đặt lệch sang một góc, phủ hờ một tấm khăn lụa mỏng lên trên cho có vẻ tuỳ tiện, không cố ý che giấu.
Không còn thời gian dọn kỹ hơn nữa.
“Mời biểu muội vào.” Ta đáp, giọng vẫn giữ vẻ điềm đạm thường ngày, tay khẽ đẩy chén cháo sang một bên, ngồi thẳng lưng lại.
Cửa phòng mở, Ý Nhu bước vào, dáng vẻ nhẹ nhàng, tay ôm một hộp gấm nhỏ, trên mặt là nụ cười quen thuộc, vừa e ấp vừa có chút gì đó cố ý làm ra vẻ thân mật.
“Muội nghe nói mấy hôm nay tỷ tỷ hay thức khuya, sợ tỷ tỷ mệt, nên mang chút yến sào sang biếu.” Nàng ta đặt hộp gấm lên bàn, giọng dịu dàng không chê vào đâu được. “Người quản gia vất vả, phải giữ sức khoẻ mới lo được việc lớn chứ.”
“Biểu muội có lòng.” Ta đáp, khẽ gật đầu cảm ơn, tay đặt lên chén cháo còn nóng, không vội mở hộp yến sào ra xem.
Ý Nhu đứng đó một lúc, mắt nhìn quanh phòng, dáng vẻ như đang khen ngợi cách bài trí, nhưng ta để ý, ánh mắt nàng ta lướt qua án thư nhanh một cái, chỉ trong khoảnh khắc ngắn ngủi, rồi dừng lại đúng chỗ chồng sổ chi lương ta phủ khăn lụa qua loa hồi đêm.
Chỉ một khoảnh khắc. Nhưng đủ để ta nhận ra.
“Tỷ tỷ đang xem sổ sách gì vậy?” Ý Nhu hỏi, giọng vẫn nhẹ nhàng như đang hỏi chuyện phiếm, nhưng ánh mắt lại không rời khỏi góc bàn ấy.
“Sổ chi tiêu tháng trước, xem lại cho kỹ trước khi trình Hầu phu nhân.” Ta đáp, giọng thản nhiên, tay khẽ kéo tấm khăn lụa che kín thêm một chút, động tác chậm rãi như thể chỉ đang thu dọn bàn cho gọn gàng, không có gì vội vã. “Quản gia mà, sổ sách bao giờ cũng phải xem đi xem lại vài lần mới yên tâm.”
“Tỷ tỷ cẩn thận thật.” Ý Nhu cười, nụ cười vẫn dịu dàng như cũ, nhưng ta bắt gặp trong đáy mắt nàng ta một tia sáng lạnh lướt qua rất nhanh, khác hẳn với vẻ ngoài đang cố giữ. “Muội thì vụng về, chỉ biết mấy việc lặt vặt tỷ tỷ giao cho, sổ sách lớn nhìn vào là hoa cả mắt.”
“Biểu muội khiêm tốn rồi.” Ta đáp, giọng vẫn ôn hoà, nhưng lòng đã dấy lên một phần cảnh giác rõ rệt.
Câu nói của Ý Nhu ngoài hành lang mấy hôm trước còn văng vẳng bên tai ta: “Muội tưởng giữ được cuốn sổ là giữ được tất cả sao?” Một người đã nói ra câu ấy, tuyệt không phải loại người “nhìn sổ sách hoa cả mắt” như lời nàng ta vừa than vãn.
Ý Nhu nán lại thêm vài câu chuyện phiếm không đâu vào đâu, hỏi thăm ta ngủ có ngon, ăn có được không, rồi mới cáo từ, dáng vẻ lưu luyến như một người em gái thật sự quan tâm đến chị dâu mới cưới.
Đến khi bóng nàng ta khuất hẳn sau cánh cửa, ta mới thở ra một hơi dài, tay siết chặt mép bàn.
“Tiểu thư…” Bích Chi đứng nép sau bình phong từ lúc Ý Nhu vào, giờ mới bước ra, giọng thấp xuống. “Nô tỳ thấy biểu tiểu thư nhìn chỗ chồng sổ sách lâu lắm, không giống như chỉ liếc qua bình thường đâu.”
“Ta cũng thấy.” Ta đáp, tay kéo tấm khăn lụa ra, nhìn lại chồng sổ chi lương bên dưới, kiểm tra từng trang xem có bị xáo trộn hay không. May mắn, mọi thứ vẫn còn nguyên vẹn, không có dấu hiệu bị lật xem trong lúc ta không để ý.
Nhưng lần này khác hẳn mọi lần trước.
Trước đây, ta chỉ nghi Ý Nhu tranh quyền quản gia vì lòng tham thường tình, hoặc vì muốn giữ vị trí thân cận với Hầu phu nhân. Nhưng ánh mắt nàng ta lướt qua chồng sổ sách hôm nay, dừng đúng chỗ, đúng lúc, đúng thứ ta vừa mới đối chiếu xong đêm qua, không thể là trùng hợp ngẫu nhiên.
Nàng ta đang để ý đến chính những cuốn sổ ta đang xem.
Có thể nàng ta chưa biết ta đã tìm ra sổ xanh của mẹ. Có thể nàng ta chỉ đơn thuần cảnh giác, muốn biết ta rốt cuộc đang làm gì mỗi đêm sau cánh cửa đóng kín. Nhưng dù là lý do gì, một điều đã rõ ràng hơn bao giờ hết: Ý Nhu không hề đơn giản như vẻ ngoài yếu đuối nàng ta vẫn khoác lên mỗi khi đứng trước Hầu phu nhân.
Trắng đen phải rõ. Ta tự nhắc mình, tay khẽ vuốt phẳng lại chồng sổ sách, xếp gọn vào ngăn kéo án thư, khoá lại cẩn thận bằng chiếc chìa nhỏ ta luôn mang theo bên người từ hôm tìm ra sổ xanh của mẹ.
Ta chưa đủ bằng chứng để vạch mặt bất cứ ai. Nhưng từ hôm nay, ta biết chắc một điều: mỗi đêm ngồi dưới đèn dầu đối chiếu sổ sách, ta không còn là người duy nhất chú ý đến những con số ấy.
Ngoài song cửa, nắng sớm đã lên, rọi một vệt dài qua khe hở tấm rèm, chiếu thẳng vào chiếc hộp khảm trai vẫn nằm yên trên án thư, im lìm như chưa từng cất giữ bất cứ bí mật nào.