Xuyên Vào Bé Gái Nhà Nghèo Có Không Gian
Chương 23: Sự Thật Về Mẹ
Chu Bá Thành bị lôi vào trong trước khi kịp nói hết câu, để lại muội đứng chết trân giữa công đường, toàn thân run lên bần bật vì câu nói bỏ lửng ám ảnh không nguôi. Tống Dịch Xuyên siết chặt tay muội, dìu nàng ngồi xuống bậc thềm gần đó, mẹ kế Chu Ngọc Lan vội vàng chạy đến, ôm chặt lấy muội, tay vuốt lưng trấn an dù chính bà cũng đang run rẩy không kém.
Công đường lúc này ồn ào lẫn lộn, tiếng bước chân nha dịch, tiếng xích sắt va vào nhau lách cách khi người ta áp giải Chu Bá Thành ra phía sau, mùi khói nhang từ án thờ công lý phía trên đầu quyện với mùi mồ hôi và bụi đất của đám đông hiếu kỳ đứng chen chúc ngoài sân, tất cả hoà thành một thứ áp lực ngột ngạt đè lên lồng ngực muội. Theo phản xạ đã ăn sâu từ kiếp trước, nàng tự nhủ mình phải hít vào thật sâu, đếm đến ba rồi thở ra chậm rãi, nhưng tim vẫn đập dồn dập như trống trận, hai tay lạnh ngắt dù trời giữa trưa nắng gắt.
“Con bình tĩnh lại đã.” Chu Ngọc Lan thì thầm, giọng nghẹn ngào. “Tri huyện đại nhân sẽ thẩm vấn riêng, chúng ta sẽ biết rõ ngọn ngành sự thật, con đừng vội hoảng loạn.”
Muội cảm nhận rõ bàn tay Chu Ngọc Lan đặt trên lưng mình cũng đang run lên từng chặp, hơi thở bà gấp gáp không kém, chỉ là cố nén xuống để làm chỗ dựa cho muội. Mùi vải thô quen thuộc trên tay áo mẹ kế, lẫn chút mùi bồ kết gội đầu, bỗng dưng trở thành thứ neo giữ hiếm hoi kéo muội khỏi cơn hoảng loạn đang chực trào dâng.
Muội gật đầu, cố ép mình hít thở đều đặn trở lại, nhưng đầu óc vẫn không ngừng quay cuồng với câu hỏi treo lơ lửng: chính tay ta đã… đã làm gì với mẹ mình?
Trong đầu muội, những mảnh ký ức mơ hồ về người mẹ ruột chưa từng một lần rõ nét, chỉ là vài hình ảnh rời rạc như sương khói: một bàn tay gầy guộc đặt lên trán lúc nàng sốt cao thuở nhỏ, một giọng hát ru khe khẽ nghe qua lời kể của người làng, một chiếc vòng bạc cũ kỹ truyền lại không rõ duyên cớ. Kiếp trước, muội từng nghĩ mình đã quen với việc đối diện sinh tử, đã học được cách tách bạch cảm xúc cá nhân ra khỏi công việc để giữ đầu óc tỉnh táo mà cứu người, nhưng lúc này, khi nỗi đau ấy chính là của bản thân mình, của chính máu mủ ruột thịt mình, nàng mới nhận ra thứ bản lĩnh ấy mong manh đến nhường nào.
Tri huyện Hà Dương, sau khi cho người đưa Chu Bá Thành vào phòng thẩm vấn riêng, đích thân giám sát buổi tra hỏi suốt cả một canh giờ dài đằng đẵng. Đến khi ông bước ra, gương mặt nghiêm nghị của ông thoáng lộ một chút gì đó trầm lắng, khác hẳn vẻ lạnh lùng cương quyết lúc tuyên lệnh vây bắt trước đó.
Suốt một canh giờ đằng đẵng ấy, muội cùng Chu Ngọc Lan và Tống Dịch Xuyên ngồi chờ ở gian ngoài, không ai nói với ai lời nào. Chu Ngọc Lan hết đứng lại ngồi, tay siết chặt vạt áo đến nhăn nhúm, thỉnh thoảng lại ngoái nhìn về phía cửa phòng thẩm vấn đóng kín như mong có thể nhìn xuyên qua lớp gỗ dày để biết chuyện gì đang xảy ra bên trong. Tống Dịch Xuyên đứng lặng lẽ bên cửa sổ, ánh mắt dõi ra sân huyện nha nơi nắng đã ngả bóng dài, nhưng bàn tay đặt sau lưng của hắn siết chặt đến trắng bệch, tố cáo sự bình tĩnh bề ngoài chỉ là vỏ bọc. Muội ngồi giữa hai người, tim đập từng nhịp nặng nề, mỗi tiếng bước chân vọng ngoài hành lang đều khiến nàng giật mình ngẩng đầu, chỉ để rồi lại thất vọng khi không phải tri huyện bước ra.
Ông cho gọi muội cùng Tống Dịch Xuyên và Chu Ngọc Lan vào một gian phòng nhỏ yên tĩnh, tự tay rót cho muội một chén trà ấm trước khi bắt đầu thuật lại những gì Chu Bá Thành đã khai.
Gian phòng nhỏ ấy đơn sơ, chỉ có một chiếc bàn gỗ cũ và vài chiếc ghế đơn, ánh nắng chiều xuyên qua khung cửa giấy hắt một vệt sáng vàng nhạt lên mặt bàn, hơi trà nóng bốc lên thoang thoảng mùi lá sen phảng phất trong không khí tĩnh lặng. Tri huyện Hà Dương ngồi xuống đối diện, dáng vẻ không còn nghiêm khắc như lúc tuyên lệnh vây bắt ngoài công đường, thay vào đó là sự cẩn trọng của một người sắp phải trao cho một đứa trẻ bảy tuổi một sự thật quá nặng nề so với tuổi của nó.
“Mười năm trước, sau khi vụ án ngự y Tống Bách Hoành khép lại, Chu Bá Thành vẫn không yên tâm, vì biết rõ Chu Nguyệt, cháu gái xa của nhánh nghèo trong họ, từng là a hoàn thân tín nhất trong phủ ngự y, hẳn đã biết rất nhiều nội tình. Hắn cho người âm thầm dò la tung tích nàng suốt nhiều năm ròng, nhưng mãi không tìm ra manh mối.” Tri huyện Hà Dương chậm rãi kể lại, giọng trầm ổn. “Đến khi hắn phát hiện Chu Nguyệt đã lấy chồng, sinh con, sống yên ổn ngay tại thôn Liễu Hà này dưới một cái tên khác, hắn mới thật sự an tâm phần nào, cho rằng nàng đã quên hết chuyện cũ, không còn là mối đe doạ.”
Muội nghe đến đây, lòng thắt lại. Nàng nhớ lại từng lần Chu Ngọc Lan im lặng né tránh mỗi khi bị hỏi về mẹ ruột mình, từng ánh mắt thoáng qua vẻ áy náy khó hiểu của bà, giờ đây tất cả bỗng dưng có lời giải thích. Không phải mẹ kế cố tình giấu diếm ác ý, mà có lẽ chính bà cũng chỉ biết được rất ít, hoặc sợ khơi lại nỗi đau cho một đứa trẻ còn quá nhỏ để mang vác sự thật tàn khốc ấy.
Muội siết chặt chén trà trong tay, ngón tay trắng bệch, lắng nghe từng lời như nuốt lấy từng chữ.
“Nhưng bốn năm trước, khi hắn bắt đầu tái diễn thủ đoạn ăn chặn gạo cứu tế ngay tại chính thôn Liễu Hà, Chu Nguyệt vô tình phát hiện ra dấu hiệu bất thường từ đợt gạo mốc, nhận ra ngay đây chính là thủ đoạn cũ mười năm trước đã hại chết ngự y đại nhân. Nàng định âm thầm báo lên quan trên tố cáo, không ngờ tin tức lọt đến tai Chu Bá Thành trước.” Tri huyện dừng lại một khắc, ánh mắt ông thoáng qua một tia thương xót hiếm hoi. “Đêm ấy, Chu Bá Thành sai người truy đuổi ráo riết, phóng hoả một góc nhà nàng đang trú ngụ để uy hiếp. Chu Nguyệt ôm theo đứa con ba tuổi chạy trốn trong đêm mưa lớn, kịp gửi lại con cho chồng trước khi bị dồn đến bờ sông chảy xiết. Không còn đường lui, nàng đành nhảy xuống dòng nước cuồn cuộn để thoát khỏi sự truy sát, từ đó biệt vô âm tín.”
Muội nghe đến đó, tai bỗng ù đi, cảnh tượng trong lời kể của tri huyện tự động dựng lên trong đầu nàng rõ mồn một như thể chính mắt nhìn thấy: một người phụ nữ trẻ ôm chặt đứa con ba tuổi chạy trong màn mưa xối xả, tóc tai ướt sũng bết vào mặt, phía sau là tiếng chân đuổi gấp và ánh đuốc chập chờn, đến bờ sông thì không còn đường nào khác ngoài việc dúi con vào tay chồng rồi quay người lao xuống dòng nước đen ngòm cuộn xiết. Kiếp trước, muội từng chứng kiến không biết bao nhiêu ca cấp cứu ngặt nghèo, từng tự nhủ mình phải giữ đầu óc lạnh để phán đoán chính xác, nhưng lúc này nàng chẳng thể nào tách rời cảm xúc ra khỏi sự thật đau đớn ấy được nữa. Đó là mẹ ruột của nàng, người phụ nữ đã liều mạng sống của mình chỉ để giữ lại một hơi thở nhỏ nhoi cho đứa con thơ dại. Nước mắt muội trào ra không kìm được, cổ họng nghẹn đắng, hai bàn tay siết chặt vào nhau đến mức các khớp ngón tay trắng bệch.
Muội ngồi lặng người, nước mắt lăn dài không kìm được. Kiếp trước, nàng từng đối diện với vô số câu chuyện đau lòng trên bàn cấp cứu, từng học cách giữ mình tỉnh táo trước nỗi đau của người khác để có thể cứu người kịp thời, nhưng lần này, nỗi đau ấy chính là của bản thân mình, của người mẹ chưa từng một lần được ôm ấp, vuốt ve.
Nàng nhớ lại những đêm trực dài kiếp trước, khi phải thông báo tin dữ cho thân nhân bệnh nhân, luôn tự nhắc mình giữ giọng điềm tĩnh, ánh mắt vững vàng, bởi sự hoảng loạn của người truyền tin sẽ chỉ khiến người nghe thêm suy sụp. Nhưng chưa từng có ai dạy nàng cách giữ bình tĩnh khi chính mình là người nhận tin, khi nỗi đau ấy không phải của một bệnh nhân xa lạ mà là của người đã mang nặng đẻ đau ra chính hình hài này. Muội để mặc nước mắt rơi, không còn cố gắng nén lại như mọi lần, bởi nàng biết, có những nỗi đau không cần phải giấu, chỉ cần được thừa nhận đã là một bước để bước tiếp.
“Vậy… mẹ con có còn sống không ạ?” Muội hỏi, giọng run lên, vừa sợ hãi câu trả lời vừa khao khát được biết sự thật đến cùng.
Gian phòng nhỏ chợt im bặt, chỉ còn tiếng gió khẽ lay động rèm cửa giấy và tiếng chim đâu đó ngoài sân khẽ kêu lên một tiếng rồi vụt bay đi. Tri huyện Hà Dương im lặng một lúc lâu, ánh mắt ông trầm xuống như đang cân nhắc từng lời sắp nói ra, sợ rằng chỉ một câu vô ý cũng có thể đẩy đứa trẻ trước mặt vào vực sâu tuyệt vọng hoặc ảo tưởng viển vông.
“Chu Bá Thành khai rằng, hắn không tận mắt chứng kiến Chu Nguyệt chết đuối, chỉ biết nàng nhảy xuống sông giữa đêm mưa lớn nước chảy xiết, sau đó không còn tin tức gì thêm.” Tri huyện Hà Dương đáp, giọng cẩn trọng như không muốn gieo thêm hy vọng hão huyền hay tuyệt vọng quá sớm cho một đứa trẻ. “Nói cách khác, chưa có bằng chứng xác thực nào khẳng định nàng đã mất mạng.”
Đầu óc muội quay cuồng với hàng loạt giả định trái ngược nhau. Nếu mẹ nàng còn sống, vì sao suốt bốn năm ròng không một lần tìm về, không một tin tức nào được gửi đến? Phải chăng nàng bị thương nặng, mất trí nhớ, hay đơn giản là không còn đủ sức để tìm đường trở lại? Kiếp trước, mỗi khi đánh giá tình trạng một ca bệnh, muội luôn tự nhắc mình phải nhìn vào bằng chứng thực tế thay vì hy vọng suông, nhưng lần này, dù lý trí mách bảo rằng khả năng sống sót sau cú nhảy xuống dòng nước xiết giữa đêm mưa là rất mong manh, trái tim nàng vẫn không cách nào dập tắt hẳn tia hy vọng nhỏ nhoi đang le lói.
Câu trả lời ấy như một tia sáng mong manh giữa nỗi đau đớn tột cùng, khiến muội vừa nhẹ lòng phần nào, vừa càng thêm khắc khoải. Ít nhất, giờ đây nàng đã biết rõ nguyên do thật sự, không còn phải sống trong mù mờ phỏng đoán như trước, dù sự thật ấy đau đớn hơn bất cứ điều gì nàng từng tưởng tượng.
Nàng tự nhủ, dù cơ hội có mong manh đến đâu, chỉ cần chưa có bằng chứng chắc chắn rằng mẹ đã không còn, nàng sẽ không bao giờ ngừng tìm kiếm. Dẫu phải mất bao nhiêu năm, dẫu phải đi khắp bao nhiêu vùng đất xa lạ, muội cũng nhất định phải biết được kết cục thật sự của người đã sinh ra mình.
Tống Dịch Xuyên ngồi bên cạnh suốt từ đầu đến cuối, không nói một lời nào, chỉ lặng lẽ đưa tay nắm lấy bàn tay đang run rẩy của muội, siết nhẹ một cái đầy an ủi. Hơi ấm từ bàn tay ấy như một sợi dây vô hình kéo muội trở lại khỏi vực sâu của nỗi đau, nhắc nhở nàng rằng mình không hề đơn độc giữa tin dữ lẫn tia hy vọng mong manh này.
Muội khẽ siết lại bàn tay hắn, như thể muốn khắc ghi cảm giác ấm áp vững chãi ấy vào lòng. Nàng nhớ lại biết bao lần hắn âm thầm đứng sau lưng mình suốt những ngày tháng sóng gió vừa qua, từ lúc dò xét manh mối cũ cho đến khi cùng nàng đối diện với sự thật đau lòng hôm nay, chưa một lần rời đi hay tỏ ra chán nản. Thứ tình cảm ấy, dẫu chưa từng được nói ra rành mạch, đã dần trở thành điểm tựa vững chắc nhất trong cuộc đời mới của nàng.
“Con không cô độc.” Hắn khẽ nói, giọng trầm ấm. “Dù sự thật có ra sao, ta vẫn sẽ ở đây, cùng con đi tìm cho đến cùng.”
Muội ngước nhìn hắn, đôi mắt còn ngân ngấn nước nhưng khoé môi đã khẽ cong lên một chút, một sự biết ơn sâu sắc dâng lên trong lòng trước sự đồng hành bền bỉ ấy suốt bao chương đường đã qua.
Buổi chiều hôm ấy, ba người rời huyện nha trong im lặng, nhưng là một sự im lặng khác hẳn lúc đến, không còn nặng nề sợ hãi mà thay vào đó là một nỗi nhẹ nhõm mong manh xen lẫn quyết tâm. Trên đường về thôn Liễu Hà, muội ngước nhìn ánh hoàng hôn nhuộm đỏ cả một góc trời, thầm hứa với bản thân sẽ không bao giờ từ bỏ hy vọng tìm lại người mẹ mà nàng chưa từng có cơ hội gọi một tiếng.
Ba ngày chờ đợi ấy trôi qua chậm chạp lạ thường đối với muội. Ban ngày, nàng vẫn theo Chu Ngọc Lan ra đồng, phụ giúp Tiểu Bảo và Tiểu Yến những việc lặt vặt trong nhà như mọi khi, cố giữ nếp sinh hoạt thường nhật để không suy nghĩ quá nhiều, nhưng đến đêm, khi cả nhà đã yên giấc, muội lại lặng lẽ mở giếng linh ra ngồi một mình, nhìn dòng nước trong vắt bên trong mà nhớ đến người mẹ chưa từng gặp mặt. Cả thôn Liễu Hà những ngày ấy cũng xôn xao không kém, tin tức về vụ án Chu Bá Thành lan truyền khắp các ngõ xóm, nhà nào cũng bàn tán, nhắc lại những năm tháng khổ sở vì gạo mốc, vì sưu cao thuế nặng dưới tay tên lý trưởng tham lam ấy. Nhiều người không giấu được sự háo hức chờ ngày công lý được thực thi công khai.
Ba ngày sau, huyện nha Hà Dương chính thức công bố phán quyết cuối cùng trước toàn thể dân chúng tụ họp đông đảo tại sân huyện nha.
Sân huyện nha hôm ấy chật kín người, từ dân thường thôn Liễu Hà cho đến các thôn lân cận từng chịu hại bởi thủ đoạn ăn chặn gạo cứu tế của Chu Bá Thành, ai nấy đều chen chúc tìm một chỗ đứng để tận mắt chứng kiến giờ phút phán quyết. Nắng đầu giờ Ngọ chiếu gắt xuống sân gạch, hơi nóng bốc lên hầm hập, nhưng không ai chịu rời đi tìm bóng mát, tất cả đều nín thở dõi mắt về phía đài xử án dựng cao ở giữa sân, nơi Chu Bá Thành và Tưởng Văn Húc bị áp giải quỳ trước mặt tri huyện Hà Dương trong tiếng xích sắt loảng xoảng. Tiếng thì thầm bàn tán rộ lên từng đợt rồi lại tắt ngấm mỗi khi có tiếng trống báo hiệu buổi thẩm án sắp bắt đầu, không khí căng như dây đàn sắp đứt.
“Lý trưởng Chu Bá Thành, tội ăn chặn gạo cứu tế của triều đình trong nhiều năm liền, tội vu hại ngự y Tống Bách Hoành đến chết oan trong ngục, tội mưu sát, phóng hoả, diệt khẩu nhiều lần, xử trảm ngay tại pháp trường, tịch thu toàn bộ gia sản sung vào công quỹ cứu tế cho dân nghèo các thôn từng chịu hại.” Tri huyện Hà Dương tuyên đọc từng chữ dõng dạc, vang khắp sân huyện nha im phăng phắc lắng nghe.
Một tiếng ồ kinh ngạc xen lẫn hả hê vang lên khắp đám đông ngay khi dứt lời tuyên án, có người bật khóc nức nở, có người siết chặt tay người bên cạnh như trút được gánh nặng đè lên vai suốt bao năm ròng. Muội đứng lẫn trong đám đông ấy, cảm nhận rõ luồng cảm xúc tập thể dâng trào xung quanh mình, vừa hả dạ vừa có chút rùng mình trước sự nghiêm khắc của luật pháp.
“Thư lại Tưởng Văn Húc, vì đã thành khẩn khai báo, hợp tác điều tra, được giảm nhẹ tội trạng, chỉ chịu án lưu đày biệt xứ, không phải chịu án tử.”
“Ngự y Tống Bách Hoành, cùng tá điền Lâm Đại Tường đã khuất, đều được minh oan hoàn toàn, phục hồi thanh danh, tên tuổi được ghi lại rõ ràng trong sổ sách quan phủ như những người vô tội đã chết oan vì lòng tham của kẻ khác, gia quyến được miễn thuế ba năm như một lời tạ lỗi muộn màng từ phía triều đình.”
Nghe đến tên cha ruột mình được xướng lên giữa sân huyện nha đông đảo, muội cảm thấy sống mũi cay cay. Lâm Đại Tường đã khuất bốn năm nay, chưa từng một lần được nghe những lời minh oan này, nhưng ít nhất, từ hôm nay, cái tên ông sẽ không còn bị gắn với tội danh oan uổng nào nữa, con cháu sau này nhắc đến ông cũng sẽ chỉ còn nhớ về một tá điền hiền lành, vô tội. Muội thầm nghĩ, giá như cha có thể biết được ngày hôm nay, hẳn ông sẽ an lòng nơi chín suối. Nàng khẽ cúi đầu, trong lòng dâng lên một nỗi tiếc nuối lẫn nhẹ nhõm khó gọi thành tên, tiếc vì cha không còn sống để chứng kiến, nhẹ nhõm vì danh dự của ông cuối cùng cũng được trả lại trọn vẹn.
Tiếng vỗ tay cùng tiếng khóc xen lẫn tiếng thở phào nhẹ nhõm vang lên khắp sân huyện nha. Dân chúng thôn Liễu Hà ôm lấy nhau, nhiều người rơi nước mắt khi cuối cùng cũng thấy công lý được thực thi sau một thập kỷ dài đằng đẵng chịu đựng trong im lặng.
Một bà lão trong đám đông run run kể lại cho những người xung quanh nghe về năm xưa nhà mình suýt chết đói vì phần gạo cứu tế bị ăn bớt quá nửa, giọng bà nghẹn lại giữa chừng. Một người đàn ông trung niên đứng gần đó gật đầu, kể thêm về người thân từng bị vu oan chỉ vì dám lên tiếng phản đối. Những câu chuyện nhỏ lẻ ấy, vốn bị chôn giấu suốt bao năm vì sợ hãi quyền thế, giờ đây được kể ra công khai giữa thanh thiên bạch nhật, như một liều thuốc xoa dịu vết thương âm ỉ của cả một vùng đất.
Muội đứng giữa đám đông, tay nắm chặt sợi vòng cổ hạt châu đỏ, ngước nhìn bầu trời trong xanh cao vời vợi phía trên sân huyện nha, lòng vừa nhẹ nhõm vì công lý đã được thực thi trọn vẹn, vừa âm thầm nuôi một hy vọng nhỏ nhoi chưa từng tắt: đâu đó ngoài kia, biết đâu người mẹ nàng chưa từng gặp mặt vẫn còn đang sống, đang chờ đợi ngày đoàn tụ.
Tống Dịch Xuyên bước đến đứng cạnh muội, không nói gì, chỉ lặng lẽ nhìn theo ánh mắt nàng hướng lên bầu trời. Một lúc lâu sau, hắn khẽ lên tiếng, giọng nói trầm mà chắc chắn: “Ta sẽ giúp con dò hỏi thêm tin tức về hạ lưu con sông ấy, biết đâu vẫn còn manh mối.” Muội quay sang nhìn hắn, khoé mắt còn vương chút ướt nhoè nhưng trong lòng đã vững vàng hơn rất nhiều so với buổi sáng hôm ấy khi mới nghe tin dữ. Công lý đã được thực thi, danh dự của cha nàng và ngự y đại nhân đã được trả lại, còn về phần người mẹ ruột chưa từng gặp mặt, muội biết con đường phía trước vẫn còn dài và mờ mịt, nhưng ít nhất, nàng không phải một mình bước đi trên con đường ấy.