Xuyên Vào Bé Gái Nhà Nghèo Có Không Gian

Chương 8: Sổ Hộ Khai Khống

Ba ngày sau buổi sáng ở sạp thuốc, muội vẫn ngoan ngoãn nghe lời Tống Dịch Xuyên, không tự ý dò la thêm điều gì, chỉ âm thầm để ý từng lời bàn tán vụn vặt của đám trẻ chăn trâu ngoài bờ ruộng. Gói lá thuốc hắn đưa, mẹ kế đã pha cho cả nhà uống dè xẻn từng ngày, ai nấy đều tránh động đến phần gạo cứu tế còn lại trong chum, chất thành một góc bếp như một quả bom chưa nổ mà không ai dám chạm tới.

Muội vẫn giữ nguyên thói quen của một y tá cấp cứu từ kiếp trước, cái thói quen luôn để ý những dấu hiệu nhỏ nhất trước khi chúng kịp biến thành chuyện lớn. Ở đây không có bảng theo dõi tình trạng bệnh nhân treo đầu giường, nhưng muội học được cách nhận ra sự bất an của cả nhà qua từng chi tiết vụn vặt: mẹ kế dạo này hay đứng thẫn thờ trước cửa bếp lâu hơn thường lệ, Tiểu Bảo ăn cơm cũng lặng lẽ hẳn đi, còn Tiểu Yến thì cứ bám riết lấy vạt áo muội mỗi khi trời sẩm tối. Ai cũng cảm nhận được có điều gì đó không ổn đang lẩn khuất quanh thôn nhỏ này, dù không ai nói thành lời.

Chiều nay, giữa lúc muội ngồi vá lại chiếc áo cũ của Tiểu Bảo bên hiên nhà, tai muội bất giác dựng lên khi nghe hai đứa trẻ hàng xóm thì thầm với nhau, giọng đầy vẻ bí hiểm của con nít khi lượm được chuyện người lớn.

Nắng chiều cuối xuân hắt xiên qua giàn mướp thưa lá, in những vệt sáng loang lổ trên nền sân đất nện trước hiên. Muội cúi đầu xuống đường kim mũi chỉ, cố ra vẻ chuyên tâm vá áo, nhưng đôi tai đã dựng lên tự lúc nào, không bỏ sót một chữ nào lọt ra từ phía hàng rào tre thấp bên cạnh, nơi hai đứa trẻ hàng xóm đang tíu tít nói chuyện, thỉnh thoảng lại rúc rích cười khúc khích như thể vừa nắm được một bí mật động trời.

“Tối nay lý trưởng gọi thư lại huyện nha đến, nghe bảo bàn việc riêng ở hậu đường đình làng, cấm ai bén mảng lại gần.”

“Sợ gì, ban đêm ai mà mò ra đó làm chi.”

Muội cúi đầu, mũi kim trên tay khựng lại một nhịp, tim đập nhanh hơn hẳn. Thư lại huyện nha… chẳng lẽ là Tưởng Văn Húc, người từng bị Tống Dịch Xuyên nhắc tới hôm trước? Muội biết rõ mình đã hứa sẽ cẩn thận, không tự mình dò xét thêm, nhưng ý nghĩ về đợt dịch bốn năm trước, về cha ruột nằm xuống trong cơn sốt mê man, cứ chốc chốc lại trồi lên trong đầu, kéo lý trí muội lệch dần khỏi lời hứa ban sáng.

Ký ức y tá cấp cứu bảy năm trong muội vẫn còn in hằn cảm giác bất lực mỗi khi nhìn một sinh mạng tuột khỏi tay mình dù đã cố gắng hết sức. Ở kiếp này, khi thuốc men khan hiếm và thầy lang giỏi cũng chẳng có mấy người, một trận dịch có thể quét sạch cả nửa thôn chỉ trong vài tháng ngắn ngủi, giống hệt như những gì đã cướp đi cha ruột muội bốn năm về trước. Càng nghĩ, muội càng không thể ngồi yên khi ngờ rằng phần gạo cứu tế, thứ lẽ ra có thể cứu thêm được vài mạng người khỏi cảnh đói rét bệnh tật, lại đang bị ai đó âm thầm trục lợi.

Chỉ nhìn một chút thôi. Không lại gần, không để lộ mặt.

Muội tự nhủ như vậy suốt cả buổi tối, cho đến khi ánh đèn dầu trong nhà tắt hẳn, tiếng ngáy đều đều của mẹ kế và hai đứa em vọng ra từ gian trong. Muội khẽ vén màn, chân trần bước xuống nền đất lạnh, lòng vừa run vừa quyết, len ra khỏi cửa sau nhẹ như một cái bóng.

Đêm cuối xuân trời trong, trăng lưỡi liềm treo lơ lửng giữa từng lớp mây mỏng, gió thổi hơi sương lành lạnh len qua lớp áo vá mỏng manh khiến muội rùng mình mấy bận. Con đường đất dẫn ra đình làng vắng tanh, chỉ có tiếng côn trùng rả rích và tiếng lá tre xào xạc mỗi khi có cơn gió lùa qua. Muội men theo bờ ruộng, tránh những vũng nước đọng phản chiếu ánh trăng, bước chân nhẹ đến mức chính muội cũng ngạc nhiên vì thân xác bảy tuổi này lại nghe lời mình đến vậy.

Trong đầu muội, phần bản năng của một y tá cấp cứu quen đánh giá rủi ro trước khi hành động lại lặng lẽ trỗi dậy, tự động cân đo từng bước chân: nếu có người phát hiện, muội sẽ chạy về hướng nào, nấp sau bụi cây nào gần nhất. Cảm giác ấy vừa quen thuộc vừa xa lạ, quen vì đã ăn sâu vào phản xạ suốt bảy năm trực đêm nơi bệnh viện, xa lạ vì lần này không có đồng nghiệp đứng cạnh, chỉ có bóng tối mênh mông và những hiểm nguy vô hình muội còn chưa lường hết được.

Đến gần khóm tre rậm rạp sau đình làng, muội chợt khựng lại khi thấy một bóng người cao gầy đã đứng sẵn trong bóng tối, dựa lưng vào một gốc tre lớn, im lìm như một phần của đêm tối.

Bóng áo bào sẫm màu của hắn hoà lẫn vào lớp bóng tối rậm rạp của khóm tre đến mức nếu không nhờ một tia sáng trăng mỏng manh lọt qua kẽ lá rọi trúng gò má, muội đã không thể nhận ra có người đang đứng đó.

Muội suýt bật ra tiếng kêu, kịp lấy tay bịt miệng lại. Bóng người quay phắt sang, và dưới ánh trăng mờ, muội nhận ra ngay gương mặt quen thuộc.

Tống đại phu?!

Tống Dịch Xuyên cũng sững người không kém, hắn bước nhanh hai bước lại gần, hạ giọng xuống mức chỉ đủ hai người nghe thấy, âm sắc trách móc rõ rệt lẫn trong sự hoảng hốt.

“Con làm gì ở đây giữa đêm hôm thế này? Ta đã dặn con đừng tự mình dò xét cơ mà!”

Muội cúi đầu, biết mình đuối lý, nhưng vẫn ngẩng lên nhìn thẳng vào mắt hắn, giọng nhỏ nhưng cứng cỏi.

“Con nghe đám trẻ chăn trâu nói tối nay lý trưởng gọi thư lại huyện nha đến bàn việc riêng ở đây. Con chỉ định nhìn một chút thôi, không lại gần, đại phu đừng đuổi con về, để con nhìn thấy tận mắt thì con mới yên tâm ăn ngủ được.”

Tống Dịch Xuyên nhíu mày, ánh mắt phức tạp lướt qua gương mặt bé nhỏ đang ngẩng lên đầy quyết tâm trước mặt mình. Hắn mở miệng định nói thêm điều gì đó nghiêm khắc hơn, nhưng rồi lại thở dài, có lẽ hiểu rằng đuổi muội về một mình giữa đêm tối còn nguy hiểm hơn là giữ nàng lại bên cạnh.

“Được, nhưng con phải nghe đúng từng lời ta dặn.” Hắn hạ giọng xuống mức thì thầm, tay khẽ nắm lấy vai muội kéo nhẹ vào sát bụi tre hơn, tránh xa vệt sáng trăng có thể hắt bóng ra ngoài. “Tuyệt đối không phát ra tiếng động, dù chỉ là một hơi thở mạnh. Nếu có chuyện gì bất trắc, con chạy trước, đừng ngoái lại chờ ta, nghe rõ chưa?”

Bàn tay hắn đặt trên vai muội tuy nhẹ nhưng chắc chắn, truyền sang một hơi ấm lạ lùng giữa tiết trời se lạnh của đêm cuối xuân, khiến cơn run đang chực trào lên trong người muội dịu lại phần nào.

Muội gật đầu lia lịa, lòng vừa sợ vừa có chút ấm áp lạ lùng trước sự cẩn trọng của hắn dành cho một đứa trẻ không máu mủ ruột thịt.

Hai người men theo bụi tre, cúi thấp người tiến gần dần về phía gian hậu đường của đình làng, nơi duy nhất còn hắt ra một vệt sáng vàng nhạt từ khe cửa sổ giấy dán không kín. Tống Dịch Xuyên đi trước, thân hình cao lớn của hắn che chắn gần trọn tầm nhìn của muội khỏi phía đình, thỉnh thoảng lại đưa tay ra sau ra hiệu dừng bước mỗi khi có tiếng động lạ.

Muội bám sát gót Tống Dịch Xuyên, cảm nhận rõ hơi ấm toả ra từ tấm lưng rộng phía trước như một lá chắn vô hình. Nền đất ẩm ướt hơi sương thấm qua đế giày vải mỏng, cỏ dại cứa nhẹ vào bắp chân trần mỗi bước di chuyển, nhưng muội không dám kêu than dù chỉ một tiếng, chỉ cắn chặt môi dưới, mắt dán chặt vào khoảng lưng áo bạc màu trước mặt.

Đến sát bức tường gỗ cũ, cả hai nép mình sau một đám cỏ dại mọc cao, ghé mắt qua khe cửa sổ hẹp.

Bên trong, ánh đèn dầu leo lét soi rõ hai bóng người ngồi đối diện nhau qua một chiếc bàn gỗ chất đầy sổ sách. Một người mặc áo gấm sẫm màu, dáng vẻ to béo, chính là Lý trưởng Chu Bá Thành muội từng thấy thấp thoáng vài lần khi ông ta đi thu thuế ngang thôn. Người còn lại gầy gò hơn hẳn, mặc áo thư lại màu xanh lam đã sờn cũ, tay run run lật từng trang sổ, ánh mắt luôn đảo quanh như sợ có ai đang rình rập.

Ký ức nghề nghiệp cũ trong muội tự động quét qua dáng vẻ hai người: Chu Bá Thành ngồi tựa lưng thoải mái, động tác khoan thai, ánh mắt không chút dao động, đó là dáng vẻ của kẻ đã quen làm chuyện khuất tất đến mức xem như lẽ thường. Ngược lại, Tưởng Văn Húc ngồi thu người, vai so lại, tay chân cử động thừa thãi và vụng về, đúng kiểu người đang mang một gánh nặng lương tâm chưa dứt hẳn. Chỉ nhìn qua tư thế ngồi, muội đã đoán được phần nào ai mới là kẻ chủ mưu, ai chỉ là kẻ bị cuốn theo vì sợ hãi hoặc vì miếng cơm manh áo.

“Tưởng huynh xem lại cho kỹ, mục hộ Trần Nhị Bá, hộ Lưu Tam Ni, hộ Đặng lão đầu… đều ghi thêm hai khẩu mỗi nhà, vậy tổng cộng phần gạo dư năm nay tính ra là bao nhiêu?” Chu Bá Thành hỏi, giọng thản nhiên như đang bàn chuyện mua bán thường ngày, ngón tay béo múp míp gõ nhịp lên mặt bàn.

Người kia, chính là Tưởng Văn Húc, lật vội mấy trang giấy, tay cầm bút lông run rẩy tính toán, giọng nghẹn lại đầy lo sợ.

“Bẩm… bẩm Lý trưởng, tính luôn cả những hộ khai khống từ năm ngoái chưa xoá, năm nay dư ra gần ba mươi thạch gạo, đủ để…” Hắn ngập ngừng, liếc nhìn quanh phòng như sợ vách tường có tai. “Đủ để bán ra ngoài trấn kiếm lời như mọi năm.”

Ba mươi thạch gạo… muội nhẩm tính trong đầu, so với phần gạo ít ỏi mẹ kế phải chắt chiu từng bữa cho cả nhà, con số ấy lớn đến mức khiến lồng ngực muội thắt lại. Số gạo dư ấy đủ nuôi sống hàng chục hộ nghèo qua khỏi những tháng giáp hạt, vậy mà lại sắp biến thành bạc lẻ chảy vào túi riêng của hai kẻ ngồi trong căn phòng ấm áp kia.

“Vậy còn chờ gì nữa, làm cho xong đi.” Chu Bá Thành cười khẩy, tợp một ngụm trà, thái độ ung dung đến lạnh người. “Việc này ta với ngươi làm bao nhiêu năm rồi, có gì phải luống cuống.”

Muội nép sát vào bụi cỏ, hai tay siết chặt vạt áo, tim đập thình thịch trong lồng ngực. Khai khống hộ đói để nhận dư gạo cứu tế, rồi đem bán ra ngoài kiếm lời… đúng là như những gì mình từng ngờ vực. Muội liếc sang Tống Dịch Xuyên, thấy hàm hắn nghiến chặt, ánh mắt tối sầm lại dưới bóng đêm, tay nắm chặt thành nắm đấm đặt trên đầu gối.

Trong lòng muội, một mối nghi hoặc khác lặng lẽ dấy lên. Bốn năm trước, khi dịch bệnh hoành hành khắp thôn, phần gạo cứu tế của triều đình rót xuống liệu có bị ăn chặn theo cách tương tự hay không? Nếu năm ấy đủ gạo, đủ thuốc men đến tay từng hộ nghèo khó, liệu cha ruột muội và biết bao người khác có phải chịu cảnh nằm xuống oan uổng như vậy không? Ý nghĩ ấy khiến ngực muội nghẹn lại, tay siết chặt vạt áo đến mức các khớp ngón tay trắng bệch.

Bên trong, Tưởng Văn Húc vẫn chưa hết bất an, hắn đặt bút xuống, giọng run run cất lên, lần này nhỏ hơn hẳn như đang tự nói với chính mình nhiều hơn là nói với Chu Bá Thành.

“Lý trưởng… làm mãi thế này, có ngày lộ ra thì sao? Con vẫn còn nhớ như in…” Hắn nuốt khan, tay siết chặt mép bàn đến trắng bệch. “Mười năm trước, cũng chỉ vì làm quá tay một chút mà suýt…”

Muội nín thở, cảm giác một dự cảm chẳng lành đang dâng lên từ đáy lòng. Câu nói bỏ lửng ấy như một sợi dây vô hình siết chặt lấy sự chú ý của muội, khiến muội bất giác nghiêng người thêm một chút về phía khe cửa, chỉ sợ bỏ lỡ mất câu tiếp theo.

“Câm miệng!” Chu Bá Thành đột ngột quát lên, giọng gằn từng chữ lạnh tanh, khiến cả muội lẫn Tống Dịch Xuyên đều giật bắn mình, suýt phát ra tiếng động. “Chuyện mười năm trước đã ém nhẹm xong xuôi từ lâu, ai còn dám nhắc tới nữa? Người đáng phải chết đã chết cả rồi, còn ai sống mà làm chứng được?”

Không khí trong gian phòng như đông đặc lại sau câu quát ấy. Tưởng Văn Húc cúi gằm mặt, không dám hé thêm nửa lời, chỉ lặng lẽ cầm bút viết tiếp, tay vẫn còn run rẩy không ngớt.

Muội cảm nhận rõ hơi thở của Tống Dịch Xuyên bên cạnh mình đã trở nên gấp gáp khác thường, dù hắn vẫn cố kìm giữ trong im lặng tuyệt đối. Muội không dám quay sang nhìn thẳng vào mặt hắn lúc này, chỉ len lén liếc mắt, thấy quai hàm hắn bạnh ra, những đường gân trên mu bàn tay đang bám chặt vào gờ tường gỗ nổi rõ như sắp đứt căng.

Muội chưa từng thấy hắn lộ ra vẻ căng thẳng đến vậy, kể cả những lúc bốc thuốc cho ca bệnh nặng nhất ở sạp thuốc. Có một điều gì đó trong câu nói vừa rồi đã chạm đúng vào một vết thương cũ mà hắn vẫn cố giấu kín bấy lâu nay.

Người đáng phải chết đã chết cả rồi…

Câu nói ấy văng vẳng trong đầu muội, một linh cảm bất an dâng lên không rõ nguyên do. Muội chưa kịp nghĩ thêm điều gì thì đột nhiên có tiếng chó sủa vang lên từ phía cổng đình, tiếp theo là tiếng bước chân nặng nề của gia đinh tuần tra đi ngang khu vực gần đó.

Tống Dịch Xuyên phản ứng nhanh như một bản năng, tay hắn lập tức đặt nhẹ lên vai muội, khẽ ấn xuống ra hiệu ngồi thụp thấp hơn nữa, đầu ngón tay run lên một chút vì căng thẳng nhưng động tác vẫn dứt khoát không chút do dự. Muội nín thở tuyệt đối, cả người co rúm lại sau đám cỏ dại, tim đập mạnh đến mức muội sợ tiếng đập ấy sẽ vọng ra ngoài.

Bước chân gia đinh đi ngang qua, dừng lại đúng phía góc tường gần chỗ hai người ẩn nấp, ánh đuốc trong tay hắn quét một vòng sáng loang loáng chỉ cách bụi cỏ chưa đầy vài thước. Muội nhắm chặt mắt, toàn thân cứng đờ, cảm nhận rõ bàn tay Tống Dịch Xuyên vẫn giữ nguyên trên vai mình như một điểm tựa duy nhất giữa khoảnh khắc nghẹt thở ấy.

Mùi bùn đất ẩm ướt trộn lẫn mùi cỏ dại bị đè bẹp dưới thân xộc thẳng vào mũi muội, một mùi vị chân thực đến mức xa lạ với ký ức về mùi cồn và ga giường trắng muốt kiếp trước. Từng giây trôi qua dài như cả một khắc, muội đếm nhịp thở của chính mình theo thói quen cũ để trấn tĩnh, hít vào bốn nhịp, giữ lại hai nhịp, thở ra chậm rãi, cố không để hơi thở dồn dập làm lộ tung tích cả hai.

Vài nhịp tim sau, tiếng bước chân xa dần, tiếng chó sủa cũng lặng hẳn. Gia đinh có lẽ chỉ đi tuần thường lệ, không hề hay biết có hai người đang nấp ngay sát vách tường.

Phải mất thêm một lúc lâu sau đó, khi tiếng bước chân đã tan hẳn vào màn đêm, tim muội mới dần trở lại nhịp đập bình thường. Thói quen đếm mạch từ kiếp trước khiến muội tự nhẩm lại vài lần, xác nhận nhịp tim mình đã dịu xuống mới dám khẽ cựa người, gỡ bỏ tư thế co rúm đã tê cứng cả hai chân.

Tống Dịch Xuyên thở ra một hơi thật khẽ, xoay đầu nhìn muội, ánh mắt trong bóng tối vừa dò xét vừa xen lẫn chút lo lắng thấy rõ. Hắn ra hiệu bằng mắt, chỉ tay về phía con đường nhỏ dẫn ra bờ ruộng, ý bảo đã đến lúc phải rút lui trước khi có thêm bất trắc nào khác.

Muội gật đầu, không dám chậm trễ thêm khoảnh khắc nào, lồm cồm đứng dậy theo hắn, hai đầu gối vẫn còn tê mỏi vì phải giữ nguyên tư thế cúi thấp quá lâu.

Hai người men theo lối cũ, cúi thấp người lùi dần ra khỏi khóm tre, mỗi bước chân đều nhẹ như sợ đánh động cả màn đêm. Chỉ đến khi ra hẳn tới bờ ruộng vắng, cách đình làng một quãng khá xa, ánh trăng lưỡi liềm trải một lớp sáng mờ nhạt lên mặt ruộng lúa non, cả hai mới dám thở phào nhẹ nhõm.

Sương đêm bắt đầu đọng thành từng giọt li ti trên đầu ngọn cỏ, thấm lạnh qua gấu quần vá của muội. Xa xa, tiếng gà gáy sớm lác đác vọng lại từ phía thôn xóm, báo hiệu đêm đã qua quá nửa. Muội xoa xoa hai bàn tay lạnh cóng vào nhau, cố xua đi cơn run đang chạy dọc sống lưng, không biết là vì hơi lạnh hay vì những gì vừa nghe được.

Muội ngồi thụp xuống bờ cỏ, hai chân vẫn còn run nhè nhẹ vì căng thẳng dồn nén suốt nãy giờ. Muội ngẩng lên nhìn Tống Dịch Xuyên, định mở miệng hỏi về câu nói kỳ lạ của Tưởng Văn Húc lúc nãy, nhưng chưa kịp cất tiếng đã thấy hắn đứng lặng người, ánh mắt nhìn xa xăm về phía đình làng phía sau lưng, gương mặt dưới ánh trăng tái đi trông thấy.

“Đại phu?” Muội khẽ gọi, giọng lo lắng thật sự len vào từng chữ.

Tống Dịch Xuyên chậm rãi quay lại, đôi mắt hắn lúc này không còn giữ được vẻ điềm tĩnh quen thuộc muội vẫn thấy mỗi lần gặp mặt. Có một thứ gì đó vỡ ra trong ánh nhìn ấy, run rẩy và đau đớn, như một lớp vỏ bọc lạnh lùng bấy lâu bỗng chốc nứt toác dưới sức nặng của những gì vừa nghe được.

Muội đứng lặng, không dám lên tiếng giục giã, chỉ âm thầm quan sát như thói quen nghề nghiệp cũ vẫn mách bảo: đôi khi, im lặng chờ đợi lại là cách tốt nhất để một người tự mình bước qua cơn chấn động, thay vì bị thúc ép phải nói ra khi chưa sẵn sàng.

Hắn hít vào một hơi thật sâu, giọng nói khi cất lên đã nghẹn lại, run lên rõ rệt lần đầu tiên kể từ khi muội quen biết hắn.

“Chuyện mười năm trước họ nhắc tới…” Tống Dịch Xuyên dừng lại, ngón tay siết chặt vạt áo trước ngực đến trắng bệch, ánh mắt nhìn thẳng vào muội như đang cố tìm một điểm tựa giữa cơn chấn động vừa ập tới. “Liên quan đến cha ta.”